Wednesday, January 20, 2016

THẦY LẬP CAO-ÐÀI ÐẠI-ÐẠO NHƯ THẾ NÀO ?

            TAM-GIÁO THÁNH-NHƠN
                Thi
KHỔNG môn giáo huấn Ðạo luân thường,
PHU ngoại Càn-Khôn đắc tánh dương,
TỬ phủ an vui mùi đạo lý,
Giáng sanh Châu mạt đợi Linh-Vương.
            Bần-Ðạo miễn lễ, chào chư liệt đẳng hiền đồ.
            Bần-Ðạo lấy làm vui lòng đẹp ý mà trông thấy thời kỳ Ðạo-Ðức chấn hưng, Phật Tiên giáng thế, kinh Thánh lưu truyền.  Ấy là hạnh phúc chung cho toàn thể chúng-sanh.  Bần-Ðạo ước mong sao chư liệt đẳng hiền đồ phấn chí tu luyện cho đạt thấu cơ mầu nhiệm, lý vô-vi, hầu khêu sáng ngọn đuốc tinh thần mà cứu vớt trăm họ, muôn dân lạc lầm vào con đường tăm-tối.
                Thi
Vẫn ước mong cho cọng-lạc hòa,
Tinh thần phát triển thế âu ca,
Quốc dân xướng dậy tu Thiên Ðạo,
Phong hóa tô thêm mới mẽ mà! ...
                Trường Thiên
            Một mình ngồi trước Ðộng Ðào,
Toán cơ Tạo-Hóa lẽ nào tương lai.
            Dòm đời than vắn thở dài,
Nhơn dân mê mết sắc, tài, lợi, danh.
            Phút đâu có lịnh Tam Thanh,
"Tàng-Thơ Trước-Tiết" lập thành quyện kinh.
            Mời Già giáng điển thiên linh,
Chiếu phê Thánh bút thuyết minh chơn truyền.
            Nên chi vội vã đi liền,
Cỡi mây thẳng đến đàn tiền chuyển cơ.
            Thấy đời không lẽ bỏ lơ,
Nên chi trao quyện Ðồ Thơ Ðạo mầu.
            Họa may có ích về sau,
Nhơn sanh tỉnh ngộ quày đầu về nguyên.
            Nhớ xưa Thánh Ðạo ban truyền,
Dựng nền phong hóa chỉnh yên cuộc đời.
            Do theo pháp luật cơ trời,
Cang thường luân lý cho người noi theo.
            Hầu toan tránh sự lầm eo,
Chỉ phương thoát kiếp nạn nghèo họa tai.
            Tùy tùng cổ vãng kim lai,
Ðịnh hồn quốc chủng đức tài phô trương.
            Trung dung noi đấy làm gương,
Chỗ minh Minh Ðức là phương siêu phàm.
            Than vì người cả tánh tham,
Ưa bề giả tướng mến ham tục đời.
            Làm cho Nho-Giáo rã rời,
Tiếc chưng nền cũ tơi bời đổ xiêu.
            Về phần thực tế thì nhiều,
Tam cang thường ngũ làm điều luật chung.
            Luận qua Ðại-Ðạo Trung-Dung,
Chưa ai nghe thấu chỗ cùng Ðạo-Nho.
            Rừng nhu biển thánh khôn dò,
Tam-Tông Ðạo ấy một lò sanh ra.
            Càng ngày chí thiện càng xa,
Nhơn tình đạm bạc, lòng tà dấy lan.
            Ðời rày hung bạo ngỗ ngang,
Lòng người bất chánh, dạ càng bất nhơn.
            Nên chi Quỉ giận Thần hờn,
Trời ghen Ðất ghét chịu cơn khổ sầu.
            Họa tràn dẫy khắp Năm Châu,
Thiên tai, Ðịa ách khó hầu thoát thân.
            Xanh kia một đấng cầm cân,
Thưởng răn cho kẻ hữu phần vô duyên.
            Thấy đời thêm luống não phiền,
Vô hình Phật, Thánh, Thần Tiên thở dài.
            Ðộng lòng Thánh-Chúa Ngôi-Hai,
Cảnh Tiên đành bỏ, chẳng nài khổ lao.
            Lâm phàm khai hóa Ðạo Cao,
Ban truyền chánh pháp, luyện trau tinh thần.
            Thuyền từ tế độ nguyên nhân,
Thả dòng biển khổ cứu phần trầm luân.
            CAO-ÐÀI ÐẠI-ÐẠO chấn hưng,
Tam nguơn dựng lại phong thuần âu ca.
            Xưa kia Tam-Giáo Tam-Tòa,
Ngày nay chung lại một nhà phổ thông.
            Thuyết minh chánh lý Ðại Ðồng,
Làm cho con Lạc cháu Hồng mở mang.
            Dựng đời Ngũ-Ðế Tam-Hoàng,
Trăm nhà muôn họ vững vàng thảnh thơi.
            Chưa ai thấu đáo cơ Trời,
Rồi ra kích bác lắm lời dị đoan.
            Ðạo Cao sắp đặt lớp lang,
Chia ra nhiều hạng thế gian dễ tìm.
            Ðạo Trời phẳng lặng im lìm,
Thấp cao nặng nhẹ, nổi chìm vốn không.
                Thi
Không ấy là phương thoát kiếp trần,
Ðêm ngày đào tạo vóc kim thân,
Hư vô tịch diệt cơ siêu thoát,
Thanh tịnh tâm an cảnh xuất thần.
                Kệ
            Thành lòng đão nguyện Tiên Gia,
Lui về Tây Vức là nhà Thánh-Nhơn.
                                                Thăng.
                * * * * *
                Thi
đào mầm tược tượng long lân,
LÃO luyện đơn thành nhị xác thân,
ۍ phủ ngồi tu lo nấu thuốc,
Giáng sanh Thương đợi, Võ-Ðinh-Quân.
            Bần-Ðạo chào chư liệt đẳng hiền đồ.
                * * *
Kinh Thánh ẩn vi lý Ðạo mầu,
Lịnh Trời ban xuống dễ gì đâu!
ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO minh Thiên-lý,
Ðộ tận chúng-sanh thoát bể dâu.
                * * *
                Trường Thiên
            Ngồi trong Ðộng phủ chế đơn,
Xây lò Bát-Quái hiệp huờn âm dương.
            Thuốc linh nấu uống sanh trường,
Dày công cố chí mới tường phép linh.
            Bỗng vừa ngó trước Ðơn-Ðình,
Thiên cung hạ lịnh phê kinh ÐẠI-THỪA.
            Vội vàng giá võ đến trưa,
Thuyết minh cơ Ðạo, mây mưa tỉnh hồn.
            Cho đời mở hoát trí khôn,
Hầu toan thoát khỏi cái phồn dị đoan.
            Xưa tô nền tảng vững vàng,
Nhưng cao quá độ người càng khó leo.
            Máy linh khó thế lộ dèo,
Ðài cao trăm trượng rán trèo mới hay.
            Phép mầu rõ đặng hiếm ai,
Bị chưng then đóng cửa gài khó vô.
            Ẩn vi trong Bát-Quái đồ,
Có chìa khóa phép mở xô vô tìm.
            Vô-vi lặng lẽ trang lìm,
Ngấm mò đáy biển châu chìm vớt lên.
            Tu đơn chí khí vững bền,
Ðể tâm thanh tịnh làm nền Tiên-Gia.
            Ðạo truyền im ẩn sâu xa,
Chỉ phương tu luyện thoát ra biển trần.
            An vui mùi Ðạo Thánh Nhân,
Song tu tánh mạng diệt lần nghiệp duyên.
            Say mê gặp chỗ bổn nguyên,
Quày đầu trở lại cho yên tánh tình.
            Ðơn thơ lý Ðạo phát minh,
Nhưng nay sai lạc giữ gìn ích chi?
            Ðời còn biến cải tai nguy,
Nhơn sanh cơ thể suy vi rất nhiều.
            Thuốc xưa nay uống bao nhiêu,
Nhưng không trúng bịnh khó tiêu đặng mà!
            Bịnh nay thời khí bất hòa,
Phải dùng đơn dược chế ra hiện thời.
            Ắt là hết bịnh như chơi,
Người tu cũng thế tùy thời qui y.
                Thi
Y pháp hành trì cửu khiếu thông,
Ðạo-tâm thanh-tịnh chiếu minh hồng,
Hiệp-hòa thần khí nương hơi thở,
Thường chuyển pháp-luân hội cọp rồng.
            Bần-Ðạo chào chư hiền đồ, Bần-Ðạo lui.       Thăng.
                * * * * *
                Thi
tâm ái chúng đọa luân-hồi,
ÐẠT Ðạo độ đời trở lại ngôi,
TA quyết phá tan vòng tứ khổ,
Chiêu-Vương giáng thế điểm tô bồi.
            Bần-Ðạo từ bi, chào các môn-đồ.
                Thi
ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO góp đầy pho,
Ðạo lý thuyết minh rán kiếm mò,
Kinh báu lưu truyền đời thoát khổ,
Ai người căn kiếp sớm toan lo.
                * * *
Lo phương chống vững cuộc tương lai,
Níu Ðạo tu đơn kẻo lạc loài,
Thuận mạng Thiên-cơ hành chánh Ðạo,
Khuyên đừng lưu luyến chốn trần-ai.
                * * *
Phật Giáo dạy đời một chữ "KHÔNG",
Hư vô tịch diệt chốn Tiên-Bồng,
Bất sanh bất tử cơ nhàn lạc,
Phục đắc linh-căn đạo-lý thông.
            Các môn-đồ rán tu tịnh. Bần-Ðạo ban ơn chung, Bần-Ðạo lui.
15 tháng 8 Bính-Tý
CAO-ÐÀI XUẤT THẾ
ÐẠI-ÐẠO HƯNG-TRUYỀN
                Thi
CAO Tiên xuống thế độ nguyên nhân,
ÐÀI bửu rước ai đã thoát trần,
GIÁO dục đời mê ra trí huệ,
CHỦtâm phân định luyện tu cần.
            Thầy các con. Thầy mừng các con.
            Các con nam nữ tịnh tâm nghe:
                Thi
Kinh truyền xuống thế giải oan khiên,
Một bộ ẩn vi Thánh-Ðạo truyền,
Nghĩa lý đầy pho cơ xuất thế,
Ai người hữu hạnh gặp lời Tiên.
            Thi Bài
            Hồng-trần nô nức đua tranh,
Xô qua đẩy lại giựt giành lấn chen.
            A nhào vào chỗ đê hèn,
Than ôi! Bươm-bướm mê đèn chết thân!
            Làm người dễ có mấy lần,
Tam sanh hữu hạnh mới gần Phật Tiên.
            Mấy khi gặp Ðạo hưng truyền,
Thiệt là phước đức người hiền biết bao!
            Ngắm xem kim cổ lẽ nào,
Những trang quân tử anh hào xưa nay.
            Muốn tầm Ðạo thoát trần ai,
Dày công khổ trí đêm ngày vái van.
            Núi cao cũng phải tầm sang,
Công phu khổ hạnh chí càng nông thêm.
            Ðiều qui cựu pháp khép kềm,
Sắc tài tửu khí không thèm mến ưa.
            Rửa lòng ăn những muối dưa,
Mượn y bá-nạp mà chừa dục-tâm.
            Người tu giả dại, giả câm,
Giả đui, giả điếc lo tầm Ðạo cao.
            Thủ thường phận giữ thanh cao,
Nhứt tâm, đại chí anh hào vượt qua.
            Khử trừ muôn quỉ, ngàn ma,
Thất tình lục dục nên xa lánh chừng.
            Lửa lòng dập tắt không hừng,
Thức thần sai khiến thì đừng nghe theo.
            Nặng mang xác thịt hiểm nghèo,
Mà còn lội suối, băng đèo khổ tâm.
            Mấy ai cho khỏi lạc lầm,
Vì chưng xác thịt ưa tầm chuyện hư.
            Dục tình luyến ái nên trừ,
Những điều ưa chuộng thì từ nó ra.
            Ðể tâm an-tịnh, điều-hòa,
Qui nguyên tam ngũ một nhà chung vui.
            Con rõ Ðạo, con biết mùi,
Thì con lựa chọn tới lui nẽo nào?
            Tinh thần đừng để lảng xao,
Tâm hồn lay động quỉ ào chen vô.
            Mắt, tai, mũi, miệng, ý, đồ,
Chớ buông lung nó mà khô tinh thần.
            Nặng nề mang một chiếc thân,
Ðường xa muôn dậm khó gần mà mong.
            Dẫu dùng sức ngựa truy phong,
Mãn đời cùng kiếp cũng không tới mà !!!
            Chừng nào các trẻ nghe Già,
Luyện đơn, tu tịnh chỉ khoa bí-truyền.
            Cho mà tạo Phật, tác Tiên,
Quay tròn bánh phép, Ðạo huyền phát khai.
            Xuất thần ra mấy cõi ngoài,
Nghêu ngao cảnh lạc trần ai thông đồng.
            Linh-hồn hiệp khí hư không,
Nội trong nháy mắt tri thông Ðất Trời.
            Mặc tình bốn biển vui chơi,
Bỏ rồi xác thịt, mở rồi cùm gông.
            Tu Tiên giữ tánh "KHÔNG KHÔNG",
Toan phương tháo cổng, phá lồng nhảy ra.
            Sự đời đừng có đắm sa,
Vô-vi thanh tịnh hiệp hòa Thần Tiên.
                Thi
Tiên Phật cũng dùng một phép tu,
Mà thành chánh quả vẹt sương mù,
Người đời bao nỡ chôn hình ảnh,
Muôn kiếp không ra khỏi ngục tù.
                * * *
Phước lành ban bố tiết Trung-Thu,
Non nước đầy vơi một bóng thu,
Thu ở thu về ai có biết?
Thu qua rước khách, khách nào tu !!
            Thầy ban ơn các con. Thầy thăng.
Ðàn 24 tháng 9 Bính-Tý
GIẢI NGHĨA BỐN CHỮ
"ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO"
            Lý-Thái-Bạch Ðại-Tiên-Trưởng, Bần-Ðạo mừng chư hiền nam nữ.
            Bốn chữ ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO nó có nghĩa lý rất cao siêu mầu nhiệm.
            Chữ ÐẠIlớn.  Ðã rằng lớn thì còn chi lớn hơn nữa.  Nó có thể bao quát cả Càn-Khôn Võ-Trụ, nó cao thượng vô hình; không chi ngoài nó đặng.
            Ðã vậy, nó còn có một cái nghĩa riêng về lẽ Ðạo nữa.  Nghĩa riêng nó như vầy:
            Chữ Ðại (   ) là chữ Nhơn (   ) với chữ Nhứt (   ).  Chữ "Nhơn" là người, viết hai phết, tức là âm dương hiệp nhứt, mà âm dương hiệp nhứt thì phát khởi Càn-Khôn hóa sanh vạn vật.
            Vã nhơn là người, hễ người biết tu luyện cướp đặng cơ mầu nhiệm của Tạo-Công thì là đắc nhứt.  Mà nhơn lại đắc nhứt nữa (chữ Nhơn thêm chữ Nhứt là Ðại)  (   ) thì vĩnh kiếp trường tồn, diên-niên bất hoại.
            ÐẮC NHỨT là gì ?
            Nghĩa là đặng MỘT.  Một tức là cái pháp độc nhứt vô nhị, cái pháp kín nhiệm, huyền vi của Tiên, Phật, khẩu truyền tâm thọ, để cổi xác phi thăng, siêu phàm nhập Thánh.  Có câu: Thiên đắc nhứt: Thanh, - Ðịa đắc nhứt: Ninh, - Nhơn đắc nhứt: Thành.  Trời đặng MỘT ấy mà khinh thanh, - Ðất đặng MỘT ấy mà bền vững, - Người đặng MỘT ấy mà trường tồn.
            Chử THỪAphẩm bực, cao thì tuyệt mù, thấp thì thấp tột đáy.  Nó không giới hạn định phân.  Nhỏ như hột cát, lớn tợ Thái Sơn.  Nó bao quát Càn-Khôn Võ-Trụ.  Thầy tùy theo trình độ tấn-hóa nhơn sanh mà ban hành Ðạo-Ðức.  Bực thông minh trí tuệ hay là hạ tiện thường nhơn cũng có thể tu theo được.
                        Chữ CHƠNChơn-Lý.  Cái Chơn-Lý của Trời ban ra. Ai ở trong Trời Ðất cũng phải tuân hành mạng lịnh.  Hễ thuận tùng Chơn-Lý ấy thì đặng an nhàn tự-toại, còn bỏ xa Chơn-Lý ấy phải chịu khổ sở ngu hèn.
            Hay cũng có nghĩa: CHƠNchơn-truyền.  Truyền cái cơ Ðạo bằng cách chơn thật, rõ ràng, không ẩn núp cao xa sâu kín mà làm cho chúng-sanh phải khó hiểu, khó tìm, rồi thất lạc chỗ chơn-truyền đi.
            Chữ GIÁO là dạy cho người đời biết rõ căn bản, linh tánh phục hồi.  Chữ giáo là giáo hóa, giáo dục cho nhơn quần xã hội, phá mê những kiếp đã mang tội lỗi nặng nề.  Nhờ cái cơ Giáo mà loài người được tấn hoá một cách lẹ làng, bước đến nấc thang văn minh, tinh thần đạo-đức đời nọ sang đời kia, liên tiếp mãi nhau, không bao giờ ngừng nghỉ.
            Còn nói tóm bốn chữ ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO thì:
            ÐẠI-THỪA là phương pháp tu luyện cao trỗi hơn mấy bậc tiểu-thừa.  Ðể riêng cho hạng người chán Ðời tầm Ðạo, thoát kiếp luân-hồi, tầm nơi an nhàn, thanh tịnh là cảnh Bồng Lai.  Những phép ÐẠI-THỪA đó thuộc về tâm pháp bí-truyền, cái Thiên-Cơ bí mật của Thánh-Nhơn khẩu khuyết tâm-truyền để cho người tu cầu bất sanh bất tử.
            CHƠN-GIÁO là cái cơ siêu hình bài tỏ lẽ vô-vi chơn lý, đem cái phép chơn thật mà dạy đời tu hành cho khỏi nghịch với Thiên-cơ, phạm vào đường tội quá.  Có Chơn-Giáo là vì Tam-Giáo đã thất chánh-truyền.  Ngày nay ÐẠI-ÐẠO phải phục hưng đem cái cơ mầu nhiệm để truyền dạy người đời được thoát kiếp trần ai mà đoạn dứt mối dây luân-hồi quả báo, lấp biển khổ, đổ thành sầu, nhơn loại mới mong nhảy ra khỏi cái bầu tang thương biến cải được.
            Ấy là nghĩa của bốn chữ: ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO vậy.    Bần-Ðạo thăng.
25 tháng 9 - Bính-Tý
CHỈ Ý THUYẾT MINH
                Thi:
CAO Thượng bổn nguyên Ðạo chí thành,
ÐÀI tiền chực rước đám lương sanh,
GIÁO minh chơn lý truyền tâm-pháp,
CH ý vào lòng rán luyện phanh.
            Thầy mừng các con.  Thầy miễn lễ các con.
                Phú:
            Ðời cùng cuối, Phật, Tiên giáng hạ, đem Ðạo mầu phổ hóa khắp Ðông Tây.
            Cuối hạ nguơn máy Tạo vần xây, nạn tiêu diệt, sự họa tai không tránh khỏi.
            Cơ dĩ định tang thương biến cải, ôi! là đời sao quá dại chẳng thức lý tầm nguyên.
            Phong tục đành loạn lạc ngữa nghiêng, bỏ mất mối giềng của Ðạo Trời là luân-thường cang-kỷ.
            Sao mà đời không chịu gia tâm suy nghĩ, để đặng tầm thiên-cơ cầu diệu-lý mà luyện-kỷ, hầu quày trở lại chỗ nguyên thỉ cựu ngôi.
            Ðể làm chi cứ mang lấy nạn khổ mãi luân-hồi, Thầy dòm thấy luống chua xót đứng ngồi không yên dạ.
            Nên hội Tam-Giáo công-đồng, Thầy lập tờ đoan thệ, đem Ðạo mầu phổ hóa độ tất cả đám quần sanh.
            Nếu các con chẳng chịu tu hành, không bỏ dữ làm lành, Ðạo không thành Thầy nguyện không trở về ngôi vị cũ.
            Dạy hết tiếng mà cớ chi con không lưu tâm ký chú: khượi tinh thần nghe những lời Từ-Phụ nhủ khuyên con.
            Dẫu méo kia Thầy nắn, đúc cũng ra tròn, bởi thương trẻ nên chìu lòn mà dìu dắt trẻ.
            Thấy các con như gà kia lẻ mẹ, đương lúc còn bập-bẹ, chít-chiu nhau.
            Thiệt là đời tai biến biết là bao: Lửa luyện tội thay hình đổi dạng.
            Cuộc tiêu-trưởng dinh-hư bày trước mắt, mà mấy ai tường hản, giáo lý truyền làm lơ lảng, con cái vầy cũng đáng phạt trừng thay.
            Thiệt là Thầy vì thương yêu mà chịu trăm đắng ngàn cay, chìu lòn thế hạ mình độ thế, đã nhíu mặt nhăn mày biết bao là chua xót.
            Ðại ân xá tội tình thì các con nên trau giồi cạo gọt cho sạch lòng, lấy thuốc thần khử tiêu loài sâu mọt nó ăn ruồng trong cốt-tủy ngoại bì-phu.
            Thầy dạy con, con giác ngộ tầm tu, tu luyện Ðạo, Thầy mới thể độ ra khỏi chốn âm-phù về nơi Cực-Lạc.
            Tâm thanh tịnh thì tinh thần khai phát, nhờ chí cao thượng đạt mới cướp đặng Thiên-cơ.
            Sao các con ngáo-ngáo ngơ-ngơ, tâm trí vẫn mập mờ, làm như khờ như dại?
            Lời Ðạo-đức Thầy truyền là hoát thông chánh đại, làm thì không làm, mà canh cải cho thất lạc hỏng hư đi.
            Thầy thương con nên Thầy phải từ bi, chớ quyền thưởng phạt Thầy sợ gì không trừng trị.
            Sao các con phụ phàng không biết nghĩ, lại đem Thầy nạp cho lũ quỉ, ma  mà chịu thịt đổ máu rơi.
            Nhưng quá lòng từ bi thương cả mọi nơi, nên phải chịu lăn lóc với đời mà dựng gầy Ðạo-Ðức.
            Thầy dòm thấy những hạng người trí thức, lại toan lòng cướp giựt mà hiếp bức kẻ hiền ngu.
            Nếu như vầy thì đời phải chịu lờ lu, chuộng vật chất, mê tửu khí sắc tài, đành chôn nhốt trong ngục tù của ma quỉ,
            Người hối hận lo tu hành mà bươn bã quày đầu về nguyên thỉ, hiệp cùng Trời là đắc chí của bực thiện lương,
            Trước mắt con, trăm nẽo nghìn đường, chọn cho đặng một cái thẳng về chốn quê hương, khỏi lầm tà quái giáo,
            Các con bị biết bao thành kiến bao quanh, những màn u minh che phủ, nào thấy tường pháp nhiệm mầu của cơ Tạo.
            Bị thất-tình lục-dục làm mờ ám cho tinh-thần lộn-lạo, nên sa lục-đạo chịu luân-hồi.
            Cả tiếng kêu, bớ các con ôi! Thầy là Chúa-Tể bỏ vị ngôi xuống phàm cứu thế.
            Công cực khổ, Thầy đâu có nệ, miễn sao con biết thấu cuộc giả trò đời là tệ, nghe lời Thầy tu cho đoạt huệ mà siêu xuất cõi hư-linh.
            Chốn thế gian là trọng-trược vật chất hữu hình, không bền vững; nó tan nát thình lình như đám mây đương nổi,
            Cái xác thịt tạm thời trong một lúc thì cũng tiêu tan như áo ngoài con cổi, cổi cho rồi thiệt nông nỗi vàn muôn.
                Thi
Muôn kiếp các con chịu lạc đường,
Thấy vầy Thầy luống động lòng thương,
Nên đoan thệ với hàng Tiên Phật,
Lập Ðạo không thành chịu tội ương.
THẦY LẬP CAO-ÐÀI ÐẠI-ÐẠO NHƯ THẾ NÀO ?
            Thầy thấy cuộc đời biến đổi, thời khí bất hòa, nhơn-tâm xu hướng về đường vật chất, bỏ mất tinh-thần, nên phạm vào đường tội lỗi, thiệt là đời lầm-lũi mãi mà không định hồn tự hối, xúm lấn chen lội-lặn tranh giành mùi tục lụy mà thay đổi chí cao minh.
            Ba nền Chánh-Giáo (NHO, THÍCH, ÐẠO) đã nghiêng chinh, nhơn loại thảy chuộng hữu hình, không cần vô-vi thâm-viễn.
            Nay đã đến thời kỳ cuộc tuần huờn giáp nối, nền ÐẠO-TRỜI vận chuyển mà phổ hóa sanh linh.
            Tam-Giáo xưa kia lập Ðạo, lúc ban sơ truyền bá cơ diệu-lý quang-minh, bắt từ chỗ vô-vi khẩu thọ tương truyền, lần lần xuống thì trở ra hữu hình mà Ðạo mầu thất chánh, tâm-pháp lạc sai, ấy là cơ Ðạo đến thời kỳ cuối cùng của Tam-Giáo thất chơn-truyền diệu-pháp.
            Còn Ðạo Thầy lại trái hẳn với Tam-Giáo là bắt đầu truyền Ðạo thì dụng hữu hình, lấy sắc tướng, âm thinh mà độ đời một cách lẹ làng, mau chóng.  Vã lại Ðạo Thầy bắt đầu do chỗ hữu hình mà truyền bá, rồi lần lần mới dẹp hết chỗ hữu hình mà đi đến chỗ vô-vi, là cơ siêu phàm nhập thánh.  Vậy thà trước dụng cơ hữu hình để phổ hóa cho cơ Ðạo dễ lưu thông; rồi cứ đó mà dắt dẫn cho nó tấn-hóa mãi trên đường cao thượng, riết đến chỗ không-hư tức là vô-vi thì Ðạo-pháp mới phát minh, cơ diệu-lý huệ-tâm ứng lộ; thế là Ðạo Thầy không hư hoại đặng.  Mà không hư hoại đặng là nhờ ở chỗ hữu hình đi lên riết đến tận vô-vi.  Còn Tam-Giáo xưa lại từ vô-vi mà lần lần sa sút xuống hữu hình mới thành đạo bế, rồi sai lầm ra ngoại giáo bàng môn.
            Mà Thầy lập giáo kỳ này lại trái hẳn với nền cổ Ðạo.  Thầy chỉ dùng cái huyền-cơ bí-pháp mà truyền Ðạo khắp dân gian.  Thầy đem chơn pháp diệu-huyền trao cho người luyện thành chánh-giác thì phản-bổn huờn-nguyên.  Thầy dùng huyền diệu cơ bút để hoằng khai cơ-quan vô-vi Ðại- Ðạo.  Thầy nhứt định không giao Thánh-Giáo cho tay phàm nữa, vì trước kia Tam-Giáo thất chơn-truyền là cũng bởi Thánh-Giáo ở trong tay phàm, nên các con canh cải làm sái lạc pháp linh.  Vậy Thiên-Thơ Thầy định ngày nay Thầy lập giáo như vầy:
            1) Trên là dùng huyền-diệu thiêng-liêng mà bảo tồn cơ Ðạo.
            2) Dưới để tự Thầy định mới có thể chuyển hóa nổi nhơn-tâm, đủ sức thần thông, vận hành Chơn-Giáo, chớ nếu Thầy mà mượn xác thịt nặng nề thì làm sao biến hóa thiên hình vạn trạng mà phổ độ chúng-sanh cho mau chóng nổi-sôi, rần-rộ được; chớ dùng huyền-cơ bí-pháp tất có thể lưu thông nháy mắt khắp mọi nơi.  Nhưng Thầy cũng phải chịu nhọc giáng thế mượn xác phàm NGÔ-MINH-CHIÊU đặng Thầy đem cái chơn pháp tâm-truyền mà trao lại cho các con để các con giữ gìn hầu có trao lại cho người thiện căn hữu phước.  Thầy lại luyện cho các con thấy cái pháp bí diệu đó đặng rõ cơ mầu nhiệm siêu phàm, tạo Thánh Thai, để cho linh-hồn nương đó mới trở về chỗ hư-vô hiệp với Thầy là nơi an-nhàn khoái-lạc.  Xong rồi Thầy lại trở về đặng dùng huyền pháp thiêng-liêng mà chuyển hóa chúng-sanh tuyên-truyền Chánh-Ðạo.
            Tại sao Thầy đã nói: không giao Chánh-Giáo cho tay phàm và không xuất thế, mượn xác phàm như Tam-Giáo, mà rốt cuộc Thầy cũng có xuất thế, cũng có trao chơn pháp cho các con.  Thầy giải cho các con rõ:
            Nguyên Tam-Giáo ngày nay đã thất kỳ truyền, tôn chỉ lạc sai, cơ quan siêu đổ, cho nên tu thì nhiều mà không ai thành chánh quả, vậy nên nay Thầy phải giáng thế mượn xác phàm đặng đem cái tâm-pháp bí-truyền ấy trao dạy cho chúng-sanh để thoát vòng sanh tử.  Nếu không mượn xác phàm mới làm sao mà trao cái bí pháp đặng cho các con.  Hễ bí pháp thì khẩu-khẩu tương-truyền, tâm-tâm tương thọ, không được thấu lậu ra cho ai hay biết đặng, hoặc tỏa vẽ, giải phân trên giấy mực hay là dùng cơ-bút mà truyền bí pháp đặng.
            Cơ bút là để nắm quyền hành Ðạo-giáo mà phổ hóa chúng-sanh, để làm ngọn đuốc quang minh mà dẫn dắt người đến chỗ bổn nguyên là cùng mục-đích đó thôi.  Ấy nghĩa là Thầy dùng cơ bút mà truyền Ðạo-Ðức-tinh thần và huấn luyện vạn linh cho trở nên hạng người chí-đức cao-siêu Tiên, Thánh, Phật vậy.
            Các con phải biết, các con tuy thọ bí pháp mặc dầu, chớ cũng phải chịu dưới quyền lực thiêng-liêng sai khiến.  Các con nào có dối đặng với Thầy đâu?
            Các con nên biết "Ðạo Mầu Làm Bửu-Phan Tiếp Dẫn".    Thầy ban ơn các con, Thầy thăng.

No comments:

Post a Comment