TAM-GIÁO THÁNH-NHƠN
Thi
KHỔNG môn giáo huấn Ðạo luân thường,
PHU ngoại Càn-Khôn đắc tánh dương,
TỬ phủ an vui mùi đạo lý,
Giáng sanh Châu mạt đợi Linh-Vương.
Bần-Ðạo
miễn lễ, chào chư liệt đẳng hiền đồ.
Bần-Ðạo
lấy làm vui lòng đẹp ý mà trông thấy thời kỳ Ðạo-Ðức chấn hưng, Phật Tiên giáng
thế, kinh Thánh lưu truyền. Ấy là hạnh
phúc chung cho toàn thể chúng-sanh.
Bần-Ðạo ước mong sao chư liệt đẳng hiền đồ phấn chí tu luyện cho đạt
thấu cơ mầu nhiệm, lý vô-vi, hầu khêu sáng ngọn đuốc tinh thần mà cứu vớt trăm
họ, muôn dân lạc lầm vào con đường tăm-tối.
Thi
Vẫn ước
mong cho cọng-lạc hòa,
Tinh thần
phát triển thế âu ca,
Quốc dân
xướng dậy tu Thiên Ðạo,
Phong hóa
tô thêm mới mẽ mà! ...
Trường Thiên
Một mình ngồi trước Ðộng Ðào,
Toán cơ
Tạo-Hóa lẽ nào tương lai.
Dòm đời than vắn thở dài,
Nhơn dân mê
mết sắc, tài, lợi, danh.
Phút đâu có lịnh Tam Thanh,
"Tàng-Thơ Trước-Tiết" lập thành
quyện kinh.
Mời Già giáng điển thiên linh,
Chiếu phê
Thánh bút thuyết minh chơn truyền.
Nên chi vội vã đi liền,
Cỡi mây
thẳng đến đàn tiền chuyển cơ.
Thấy đời không lẽ bỏ lơ,
Nên chi
trao quyện Ðồ Thơ Ðạo mầu.
Họa may có ích về sau,
Nhơn sanh
tỉnh ngộ quày đầu về nguyên.
Nhớ xưa Thánh Ðạo ban truyền,
Dựng nền
phong hóa chỉnh yên cuộc đời.
Do theo pháp luật cơ trời,
Cang thường
luân lý cho người noi theo.
Hầu toan tránh sự lầm eo,
Chỉ phương
thoát kiếp nạn nghèo họa tai.
Tùy tùng cổ vãng kim lai,
Ðịnh hồn
quốc chủng đức tài phô trương.
Trung dung noi đấy làm gương,
Chỗ minh
Minh Ðức là phương siêu phàm.
Than vì người cả tánh tham,
Ưa bề giả
tướng mến ham tục đời.
Làm cho Nho-Giáo rã rời,
Tiếc chưng
nền cũ tơi bời đổ xiêu.
Về phần thực tế thì nhiều,
Tam cang
thường ngũ làm điều luật chung.
Luận qua Ðại-Ðạo Trung-Dung,
Chưa ai
nghe thấu chỗ cùng Ðạo-Nho.
Rừng nhu biển thánh khôn dò,
Tam-Tông
Ðạo ấy một lò sanh ra.
Càng ngày chí thiện càng xa,
Nhơn tình
đạm bạc, lòng tà dấy lan.
Ðời rày hung bạo ngỗ ngang,
Lòng người
bất chánh, dạ càng bất nhơn.
Nên chi Quỉ giận Thần hờn,
Trời ghen
Ðất ghét chịu cơn khổ sầu.
Họa tràn dẫy khắp Năm Châu,
Thiên tai,
Ðịa ách khó hầu thoát thân.
Xanh kia một đấng cầm cân,
Thưởng răn
cho kẻ hữu phần vô duyên.
Thấy đời thêm luống não phiền,
Vô hình
Phật, Thánh, Thần Tiên thở dài.
Ðộng
lòng Thánh-Chúa Ngôi-Hai,
Cảnh Tiên đành bỏ, chẳng nài khổ
lao.
Lâm
phàm khai hóa Ðạo Cao,
Ban truyền chánh pháp, luyện trau
tinh thần.
Thuyền
từ tế độ nguyên nhân,
Thả dòng biển khổ cứu phần trầm
luân.
CAO-ÐÀI
ÐẠI-ÐẠO chấn hưng,
Tam nguơn
dựng lại phong thuần âu ca.
Xưa kia Tam-Giáo Tam-Tòa,
Ngày nay
chung lại một nhà phổ thông.
Thuyết minh chánh lý Ðại Ðồng,
Làm cho con
Lạc cháu Hồng mở mang.
Dựng đời Ngũ-Ðế Tam-Hoàng,
Trăm nhà
muôn họ vững vàng thảnh thơi.
Chưa ai thấu đáo cơ Trời,
Rồi ra kích
bác lắm lời dị đoan.
Ðạo Cao sắp đặt lớp lang,
Chia ra
nhiều hạng thế gian dễ tìm.
Ðạo Trời phẳng lặng im lìm,
Thấp cao
nặng nhẹ, nổi chìm vốn không.
Thi
Không ấy là
phương thoát kiếp trần,
Ðêm ngày
đào tạo vóc kim thân,
Hư vô tịch
diệt cơ siêu thoát,
Thanh tịnh
tâm an cảnh xuất thần.
Kệ
Thành lòng đão nguyện Tiên Gia,
Lui về Tây
Vức là nhà Thánh-Nhơn.
Thăng.
* * * * *
Thi
LÝ đào mầm tược tượng long lân,
LÃO luyện đơn thành nhị xác thân,
TƯۍ phủ ngồi tu lo nấu thuốc,
Giáng sanh Thương đợi, Võ-Ðinh-Quân.
Bần-Ðạo
chào chư liệt đẳng hiền đồ.
* * *
Kinh Thánh
ẩn vi lý Ðạo mầu,
Lịnh Trời
ban xuống dễ gì đâu!
ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO minh
Thiên-lý,
Ðộ tận
chúng-sanh thoát bể dâu.
* * *
Trường Thiên
Ngồi trong Ðộng phủ chế đơn,
Xây lò
Bát-Quái hiệp huờn âm dương.
Thuốc linh nấu uống sanh trường,
Dày công cố
chí mới tường phép linh.
Bỗng vừa ngó trước Ðơn-Ðình,
Thiên cung
hạ lịnh phê kinh ÐẠI-THỪA.
Vội vàng giá võ đến trưa,
Thuyết minh
cơ Ðạo, mây mưa tỉnh hồn.
Cho đời mở hoát trí khôn,
Hầu toan
thoát khỏi cái phồn dị đoan.
Xưa tô nền tảng vững vàng,
Nhưng cao
quá độ người càng khó leo.
Máy linh khó thế lộ dèo,
Ðài cao
trăm trượng rán trèo mới hay.
Phép mầu rõ đặng hiếm ai,
Bị chưng
then đóng cửa gài khó vô.
Ẩn vi trong Bát-Quái đồ,
Có chìa
khóa phép mở xô vô tìm.
Vô-vi lặng lẽ trang lìm,
Ngấm mò đáy
biển châu chìm vớt lên.
Tu đơn chí khí vững bền,
Ðể tâm thanh
tịnh làm nền Tiên-Gia.
Ðạo truyền im ẩn sâu xa,
Chỉ phương
tu luyện thoát ra biển trần.
An vui mùi Ðạo Thánh Nhân,
Song tu
tánh mạng diệt lần nghiệp duyên.
Say mê gặp chỗ bổn nguyên,
Quày đầu
trở lại cho yên tánh tình.
Ðơn thơ lý Ðạo phát minh,
Nhưng nay
sai lạc giữ gìn ích chi?
Ðời còn biến cải tai nguy,
Nhơn sanh
cơ thể suy vi rất nhiều.
Thuốc xưa nay uống bao nhiêu,
Nhưng không
trúng bịnh khó tiêu đặng mà!
Bịnh nay thời khí bất hòa,
Phải dùng
đơn dược chế ra hiện thời.
Ắt là hết bịnh như chơi,
Người tu
cũng thế tùy thời qui y.
Thi
Y pháp hành
trì cửu khiếu thông,
Ðạo-tâm
thanh-tịnh chiếu minh hồng,
Hiệp-hòa
thần khí nương hơi thở,
Thường
chuyển pháp-luân hội cọp rồng.
Bần-Ðạo
chào chư hiền đồ, Bần-Ðạo lui. Thăng.
* * * * *
Thi
SĨ tâm ái chúng đọa luân-hồi,
ÐẠT Ðạo độ đời trở lại ngôi,
TA quyết phá tan vòng tứ khổ,
Chiêu-Vương
giáng thế điểm tô bồi.
Bần-Ðạo
từ bi, chào các môn-đồ.
Thi
ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO góp đầy
pho,
Ðạo lý thuyết
minh rán kiếm mò,
Kinh báu
lưu truyền đời thoát khổ,
Ai người
căn kiếp sớm toan lo.
* * *
Lo phương
chống vững cuộc tương lai,
Níu Ðạo tu
đơn kẻo lạc loài,
Thuận mạng
Thiên-cơ hành chánh Ðạo,
Khuyên đừng
lưu luyến chốn trần-ai.
* * *
Phật Giáo
dạy đời một chữ "KHÔNG",
Hư vô tịch
diệt chốn Tiên-Bồng,
Bất sanh
bất tử cơ nhàn lạc,
Phục đắc
linh-căn đạo-lý thông.
Các
môn-đồ rán tu tịnh. Bần-Ðạo ban ơn chung, Bần-Ðạo lui.
15 tháng 8 Bính-Tý
CAO-ÐÀI XUẤT THẾ
ÐẠI-ÐẠO HƯNG-TRUYỀN
Thi
CAO Tiên xuống thế độ nguyên nhân,
ÐÀI bửu rước ai đã thoát trần,
GIÁO dục đời mê ra trí huệ,
CHỦ덊tâm phân định luyện tu cần.
Thầy
các con. Thầy mừng các con.
Các
con nam nữ tịnh tâm nghe:
Thi
Kinh truyền
xuống thế giải oan khiên,
Một bộ ẩn
vi Thánh-Ðạo truyền,
Nghĩa lý
đầy pho cơ xuất thế,
Ai người hữu hạnh gặp lời Tiên.
Thi Bài
Hồng-trần nô nức đua tranh,
Xô qua đẩy
lại giựt giành lấn chen.
A nhào vào chỗ đê hèn,
Than ôi!
Bươm-bướm mê đèn chết thân!
Làm
người dễ có mấy lần,
Tam sanh hữu hạnh mới gần Phật
Tiên.
Mấy
khi gặp Ðạo hưng truyền,
Thiệt là
phước đức người hiền biết bao!
Ngắm xem kim cổ lẽ nào,
Những trang
quân tử anh hào xưa nay.
Muốn tầm Ðạo thoát trần ai,
Dày công
khổ trí đêm ngày vái van.
Núi cao cũng phải tầm sang,
Công phu
khổ hạnh chí càng nông thêm.
Ðiều qui cựu pháp khép kềm,
Sắc tài tửu
khí không thèm mến ưa.
Rửa lòng ăn những muối dưa,
Mượn y
bá-nạp mà chừa dục-tâm.
Người tu giả dại, giả câm,
Giả đui,
giả điếc lo tầm Ðạo cao.
Thủ thường phận giữ thanh cao,
Nhứt tâm,
đại chí anh hào vượt qua.
Khử trừ muôn quỉ, ngàn ma,
Thất tình
lục dục nên xa lánh chừng.
Lửa lòng dập tắt không hừng,
Thức thần
sai khiến thì đừng nghe theo.
Nặng mang xác thịt hiểm nghèo,
Mà còn lội
suối, băng đèo khổ tâm.
Mấy ai cho khỏi lạc lầm,
Vì chưng
xác thịt ưa tầm chuyện hư.
Dục tình luyến ái nên trừ,
Những điều
ưa chuộng thì từ nó ra.
Ðể tâm an-tịnh, điều-hòa,
Qui nguyên
tam ngũ một nhà chung vui.
Con rõ Ðạo, con biết mùi,
Thì con lựa
chọn tới lui nẽo nào?
Tinh thần đừng để lảng xao,
Tâm hồn lay
động quỉ ào chen vô.
Mắt, tai, mũi, miệng, ý, đồ,
Chớ buông
lung nó mà khô tinh thần.
Nặng nề mang một chiếc thân,
Ðường xa
muôn dậm khó gần mà mong.
Dẫu dùng sức ngựa truy phong,
Mãn đời
cùng kiếp cũng không tới mà !!!
Chừng nào các trẻ nghe Già,
Luyện đơn,
tu tịnh chỉ khoa bí-truyền.
Cho mà tạo Phật, tác Tiên,
Quay tròn
bánh phép, Ðạo huyền phát khai.
Xuất thần ra mấy cõi ngoài,
Nghêu ngao
cảnh lạc trần ai thông đồng.
Linh-hồn hiệp khí hư không,
Nội trong
nháy mắt tri thông Ðất Trời.
Mặc tình bốn biển vui chơi,
Bỏ rồi xác
thịt, mở rồi cùm gông.
Tu Tiên giữ tánh "KHÔNG KHÔNG",
Toan phương
tháo cổng, phá lồng nhảy ra.
Sự đời đừng có đắm sa,
Vô-vi thanh
tịnh hiệp hòa Thần Tiên.
Thi
Tiên Phật
cũng dùng một phép tu,
Mà thành
chánh quả vẹt sương mù,
Người đời
bao nỡ chôn hình ảnh,
Muôn kiếp
không ra khỏi ngục tù.
* * *
Phước lành
ban bố tiết Trung-Thu,
Non nước
đầy vơi một bóng thu,
Thu ở thu
về ai có biết?
Thu qua rước
khách, khách nào tu !!
Thầy
ban ơn các con. Thầy thăng.
Ðàn 24 tháng 9 Bính-Tý
GIẢI NGHĨA BỐN CHỮ
"ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO"
Lý-Thái-Bạch Ðại-Tiên-Trưởng, Bần-Ðạo
mừng chư hiền nam nữ.
Bốn
chữ ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO nó có nghĩa
lý rất cao siêu mầu nhiệm.
Chữ
ÐẠI là lớn. Ðã rằng lớn thì còn chi
lớn hơn nữa. Nó có thể bao quát cả
Càn-Khôn Võ-Trụ, nó cao thượng vô hình; không chi ngoài nó đặng.
Ðã
vậy, nó còn có một cái nghĩa riêng về lẽ Ðạo nữa. Nghĩa riêng nó như vầy:
Chữ
Ðại ( ) là chữ Nhơn ( ) với chữ Nhứt ( ).
Chữ "Nhơn" là người, viết hai phết, tức là âm dương hiệp nhứt,
mà âm dương hiệp nhứt thì phát khởi Càn-Khôn hóa sanh vạn vật.
Vã
nhơn là người, hễ người biết tu luyện cướp đặng cơ mầu nhiệm của Tạo-Công thì
là đắc nhứt. Mà nhơn lại đắc nhứt nữa (chữ Nhơn thêm chữ Nhứt là Ðại) ( )
thì vĩnh kiếp trường tồn, diên-niên bất hoại.
ÐẮC NHỨT là gì ?
Nghĩa
là đặng MỘT. Một tức là cái pháp độc nhứt vô nhị, cái pháp
kín nhiệm, huyền vi của Tiên, Phật, khẩu truyền tâm thọ, để cổi xác phi thăng,
siêu phàm nhập Thánh. Có câu: Thiên đắc
nhứt: Thanh, - Ðịa đắc nhứt: Ninh, - Nhơn đắc nhứt: Thành. Trời đặng MỘT ấy mà khinh thanh, - Ðất đặng MỘT ấy mà bền vững, - Người đặng MỘT ấy mà trường tồn.
Chử
THỪA là phẩm bực, cao thì tuyệt mù, thấp thì thấp tột đáy. Nó không giới hạn định phân. Nhỏ như hột cát, lớn tợ Thái Sơn. Nó bao quát Càn-Khôn Võ-Trụ. Thầy tùy theo trình độ tấn-hóa nhơn sanh mà
ban hành Ðạo-Ðức. Bực thông minh trí tuệ
hay là hạ tiện thường nhơn cũng có thể tu theo được.
Chữ
CHƠN là Chơn-Lý. Cái Chơn-Lý của
Trời ban ra. Ai ở trong Trời Ðất cũng phải tuân hành mạng lịnh. Hễ thuận tùng Chơn-Lý ấy thì đặng an nhàn
tự-toại, còn bỏ xa Chơn-Lý ấy phải chịu khổ sở ngu hèn.
Hay
cũng có nghĩa: CHƠN là chơn-truyền. Truyền cái cơ Ðạo bằng cách chơn thật, rõ
ràng, không ẩn núp cao xa sâu kín mà làm cho chúng-sanh phải khó hiểu, khó tìm,
rồi thất lạc chỗ chơn-truyền đi.
Chữ
GIÁO là dạy cho người đời biết rõ
căn bản, linh tánh phục hồi. Chữ giáo là
giáo hóa, giáo dục cho nhơn quần xã hội, phá mê những kiếp đã mang tội lỗi nặng
nề. Nhờ cái cơ Giáo mà loài người được
tấn hoá một cách lẹ làng, bước đến nấc thang văn minh, tinh thần đạo-đức đời nọ
sang đời kia, liên tiếp mãi nhau, không bao giờ ngừng nghỉ.
Còn
nói tóm bốn chữ ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO
thì:
ÐẠI-THỪA là phương pháp tu luyện cao
trỗi hơn mấy bậc tiểu-thừa. Ðể riêng cho
hạng người chán Ðời tầm Ðạo, thoát kiếp luân-hồi, tầm nơi an nhàn, thanh tịnh
là cảnh Bồng Lai. Những phép ÐẠI-THỪA đó thuộc về tâm pháp
bí-truyền, cái Thiên-Cơ bí mật của Thánh-Nhơn khẩu khuyết tâm-truyền để cho
người tu cầu bất sanh bất tử.
CHƠN-GIÁO là cái cơ siêu hình bài tỏ lẽ
vô-vi chơn lý, đem cái phép chơn thật mà dạy đời tu hành cho khỏi nghịch với
Thiên-cơ, phạm vào đường tội quá. Có
Chơn-Giáo là vì Tam-Giáo đã thất chánh-truyền.
Ngày nay ÐẠI-ÐẠO phải phục
hưng đem cái cơ mầu nhiệm để truyền dạy người đời được thoát kiếp trần ai mà
đoạn dứt mối dây luân-hồi quả báo, lấp biển khổ, đổ thành sầu, nhơn loại mới
mong nhảy ra khỏi cái bầu tang thương biến cải được.
Ấy
là nghĩa của bốn chữ: ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO
vậy. Bần-Ðạo thăng.
25 tháng 9 - Bính-Tý
CHỈ Ý THUYẾT MINH
Thi:
CAO Thượng bổn nguyên Ðạo chí thành,
ÐÀI tiền chực rước đám lương sanh,
GIÁO minh chơn lý truyền tâm-pháp,
CHỦ ý vào lòng rán luyện phanh.
Thầy
mừng các con. Thầy miễn lễ các con.
Phú:
Ðời cùng cuối, Phật, Tiên giáng hạ,
đem Ðạo mầu phổ hóa khắp Ðông Tây.
Cuối hạ nguơn máy Tạo vần xây, nạn
tiêu diệt, sự họa tai không tránh khỏi.
Cơ dĩ định tang thương biến cải, ôi!
là đời sao quá dại chẳng thức lý tầm nguyên.
Phong tục đành loạn lạc ngữa
nghiêng, bỏ mất mối giềng của Ðạo Trời là luân-thường cang-kỷ.
Sao mà đời không chịu gia tâm suy
nghĩ, để đặng tầm thiên-cơ cầu diệu-lý mà luyện-kỷ, hầu quày trở lại chỗ nguyên
thỉ cựu ngôi.
Ðể làm chi cứ mang lấy nạn khổ mãi
luân-hồi, Thầy dòm thấy luống chua xót đứng ngồi không yên dạ.
Nên hội Tam-Giáo công-đồng, Thầy lập
tờ đoan thệ, đem Ðạo mầu phổ hóa độ tất cả đám quần sanh.
Nếu các con chẳng chịu tu hành,
không bỏ dữ làm lành, Ðạo không thành Thầy nguyện không trở về ngôi vị cũ.
Dạy hết tiếng mà cớ chi con không
lưu tâm ký chú: khượi tinh thần nghe những lời Từ-Phụ nhủ khuyên con.
Dẫu méo kia Thầy nắn, đúc cũng ra
tròn, bởi thương trẻ nên chìu lòn mà dìu dắt trẻ.
Thấy các con như gà kia lẻ mẹ, đương
lúc còn bập-bẹ, chít-chiu nhau.
Thiệt là đời tai biến biết là bao:
Lửa luyện tội thay hình đổi dạng.
Cuộc tiêu-trưởng dinh-hư bày trước
mắt, mà mấy ai tường hản, giáo lý truyền làm lơ lảng, con cái vầy cũng đáng
phạt trừng thay.
Thiệt là Thầy vì thương yêu mà chịu
trăm đắng ngàn cay, chìu lòn thế hạ mình độ thế, đã nhíu mặt nhăn mày biết bao
là chua xót.
Ðại ân xá tội tình thì các con nên
trau giồi cạo gọt cho sạch lòng, lấy thuốc thần khử tiêu loài sâu mọt nó ăn
ruồng trong cốt-tủy ngoại bì-phu.
Thầy dạy con, con giác ngộ tầm tu,
tu luyện Ðạo, Thầy mới thể độ ra khỏi chốn âm-phù về nơi Cực-Lạc.
Tâm thanh tịnh thì tinh thần khai
phát, nhờ chí cao thượng đạt mới cướp đặng Thiên-cơ.
Sao các con ngáo-ngáo ngơ-ngơ, tâm
trí vẫn mập mờ, làm như khờ như dại?
Lời Ðạo-đức Thầy truyền là hoát
thông chánh đại, làm thì không làm, mà canh cải cho thất lạc hỏng hư đi.
Thầy thương con nên Thầy phải từ bi,
chớ quyền thưởng phạt Thầy sợ gì không trừng trị.
Sao các con phụ phàng không biết
nghĩ, lại đem Thầy nạp cho lũ quỉ, ma mà
chịu thịt đổ máu rơi.
Nhưng quá lòng từ bi thương cả mọi
nơi, nên phải chịu lăn lóc với đời mà dựng gầy Ðạo-Ðức.
Thầy dòm thấy những hạng người trí
thức, lại toan lòng cướp giựt mà hiếp bức kẻ hiền ngu.
Nếu như vầy thì đời phải chịu lờ lu,
chuộng vật chất, mê tửu khí sắc tài, đành chôn nhốt trong ngục tù của ma quỉ,
Người hối hận lo tu hành mà bươn bã
quày đầu về nguyên thỉ, hiệp cùng Trời là đắc chí của bực thiện lương,
Trước mắt con, trăm nẽo nghìn đường,
chọn cho đặng một cái thẳng về chốn quê hương, khỏi lầm tà quái giáo,
Các con bị biết bao thành kiến bao
quanh, những màn u minh che phủ, nào thấy tường pháp nhiệm mầu của cơ Tạo.
Bị thất-tình lục-dục làm mờ ám cho
tinh-thần lộn-lạo, nên sa lục-đạo chịu luân-hồi.
Cả tiếng kêu, bớ các con ôi! Thầy là
Chúa-Tể bỏ vị ngôi xuống phàm cứu thế.
Công cực khổ, Thầy đâu có nệ, miễn
sao con biết thấu cuộc giả trò đời là tệ, nghe lời Thầy tu cho đoạt huệ mà siêu
xuất cõi hư-linh.
Chốn thế gian là trọng-trược vật
chất hữu hình, không bền vững; nó tan nát thình lình như đám mây đương nổi,
Cái xác thịt tạm thời trong một lúc
thì cũng tiêu tan như áo ngoài con cổi, cổi cho rồi thiệt nông nỗi vàn muôn.
Thi
Muôn kiếp
các con chịu lạc đường,
Thấy vầy
Thầy luống động lòng thương,
Nên đoan
thệ với hàng Tiên Phật,
Lập Ðạo
không thành chịu tội ương.
THẦY LẬP CAO-ÐÀI ÐẠI-ÐẠO
NHƯ THẾ NÀO ?
Thầy thấy cuộc đời biến đổi, thời
khí bất hòa, nhơn-tâm xu hướng về đường vật chất, bỏ mất tinh-thần, nên phạm
vào đường tội lỗi, thiệt là đời lầm-lũi mãi mà không định hồn tự hối, xúm lấn
chen lội-lặn tranh giành mùi tục lụy mà thay đổi chí cao minh.
Ba nền Chánh-Giáo (NHO, THÍCH, ÐẠO) đã nghiêng chinh, nhơn
loại thảy chuộng hữu hình, không cần vô-vi thâm-viễn.
Nay đã đến thời kỳ cuộc tuần huờn
giáp nối, nền ÐẠO-TRỜI vận chuyển mà
phổ hóa sanh linh.
Tam-Giáo xưa kia lập Ðạo, lúc ban sơ
truyền bá cơ diệu-lý quang-minh, bắt từ chỗ vô-vi khẩu thọ tương truyền, lần
lần xuống thì trở ra hữu hình mà Ðạo mầu thất chánh, tâm-pháp lạc sai, ấy là cơ
Ðạo đến thời kỳ cuối cùng của Tam-Giáo thất chơn-truyền diệu-pháp.
Còn Ðạo Thầy lại trái hẳn với
Tam-Giáo là bắt đầu truyền Ðạo thì dụng hữu hình, lấy sắc tướng, âm thinh mà độ
đời một cách lẹ làng, mau chóng. Vã lại
Ðạo Thầy bắt đầu do chỗ hữu hình mà truyền bá, rồi lần lần mới dẹp hết chỗ hữu
hình mà đi đến chỗ vô-vi, là cơ siêu phàm nhập thánh. Vậy thà trước dụng cơ hữu hình để phổ hóa cho
cơ Ðạo dễ lưu thông; rồi cứ đó mà dắt dẫn cho nó tấn-hóa mãi trên đường cao
thượng, riết đến chỗ không-hư tức là vô-vi thì Ðạo-pháp mới phát minh, cơ
diệu-lý huệ-tâm ứng lộ; thế là Ðạo Thầy không hư hoại đặng. Mà không hư hoại đặng là nhờ ở chỗ hữu hình
đi lên riết đến tận vô-vi. Còn Tam-Giáo
xưa lại từ vô-vi mà lần lần sa sút xuống hữu hình mới thành đạo bế, rồi sai lầm
ra ngoại giáo bàng môn.
Mà Thầy lập giáo kỳ này lại trái hẳn
với nền cổ Ðạo. Thầy chỉ dùng cái
huyền-cơ bí-pháp mà truyền Ðạo khắp dân gian.
Thầy đem chơn pháp diệu-huyền trao cho người luyện thành chánh-giác thì
phản-bổn huờn-nguyên. Thầy dùng huyền
diệu cơ bút để hoằng khai cơ-quan vô-vi Ðại- Ðạo. Thầy nhứt định không giao Thánh-Giáo cho tay
phàm nữa, vì trước kia Tam-Giáo thất chơn-truyền là cũng bởi Thánh-Giáo ở trong
tay phàm, nên các con canh cải làm sái lạc pháp linh. Vậy Thiên-Thơ Thầy định ngày nay Thầy lập
giáo như vầy:
1) Trên là dùng huyền-diệu
thiêng-liêng mà bảo tồn cơ Ðạo.
2) Dưới để tự Thầy định mới có thể
chuyển hóa nổi nhơn-tâm, đủ sức thần thông, vận hành Chơn-Giáo, chớ nếu Thầy mà
mượn xác thịt nặng nề thì làm sao biến hóa thiên hình vạn trạng mà phổ độ
chúng-sanh cho mau chóng nổi-sôi, rần-rộ được; chớ dùng huyền-cơ bí-pháp tất có
thể lưu thông nháy mắt khắp mọi nơi.
Nhưng Thầy cũng phải chịu nhọc giáng thế mượn xác phàm NGÔ-MINH-CHIÊU đặng Thầy đem cái chơn
pháp tâm-truyền mà trao lại cho các con để các con giữ gìn hầu có trao lại cho
người thiện căn hữu phước. Thầy lại
luyện cho các con thấy cái pháp bí diệu đó đặng rõ cơ mầu nhiệm siêu phàm, tạo
Thánh Thai, để cho linh-hồn nương đó mới trở về chỗ hư-vô hiệp với Thầy là nơi
an-nhàn khoái-lạc. Xong rồi Thầy lại trở
về đặng dùng huyền pháp thiêng-liêng mà chuyển hóa chúng-sanh tuyên-truyền
Chánh-Ðạo.
Tại sao Thầy đã nói: không giao
Chánh-Giáo cho tay phàm và không xuất thế, mượn xác phàm như Tam-Giáo, mà rốt
cuộc Thầy cũng có xuất thế, cũng có trao chơn pháp cho các con. Thầy giải cho các con rõ:
Nguyên Tam-Giáo ngày nay đã thất kỳ
truyền, tôn chỉ lạc sai, cơ quan siêu đổ, cho nên tu thì nhiều mà không ai
thành chánh quả, vậy nên nay Thầy phải giáng thế mượn xác phàm đặng đem cái
tâm-pháp bí-truyền ấy trao dạy cho chúng-sanh để thoát vòng sanh tử. Nếu không mượn xác phàm mới làm sao mà trao
cái bí pháp đặng cho các con. Hễ bí pháp
thì khẩu-khẩu tương-truyền, tâm-tâm tương thọ, không được thấu lậu ra cho ai
hay biết đặng, hoặc tỏa vẽ, giải phân trên giấy mực hay là dùng cơ-bút mà
truyền bí pháp đặng.
Cơ bút là để nắm quyền hành Ðạo-giáo
mà phổ hóa chúng-sanh, để làm ngọn đuốc quang minh mà dẫn dắt người đến chỗ bổn
nguyên là cùng mục-đích đó thôi. Ấy
nghĩa là Thầy dùng cơ bút mà truyền Ðạo-Ðức-tinh thần và huấn luyện vạn linh
cho trở nên hạng người chí-đức cao-siêu Tiên, Thánh, Phật vậy.
Các con phải biết, các con tuy thọ
bí pháp mặc dầu, chớ cũng phải chịu dưới quyền lực thiêng-liêng sai khiến. Các con nào có dối đặng với Thầy đâu?
Các con nên biết "Ðạo Mầu Làm Bửu-Phan Tiếp Dẫn". Thầy ban ơn các con, Thầy thăng.
No comments:
Post a Comment