Wednesday, January 20, 2016

THUẬN THIÊN-Ý

Ngày 18 tháng 8 - Bính-Tý (1936)
        TRÁCH ÐỜI
                Thi:
CAO ban ân-huệ tẩm nhuần chung,
ÐÀI ngọc hào-quang điệp-điệp trùng,
BỒ bặc Ðạo qui cơ tại mục,
TÁT thành Chơn-Giáo bảo tâm trung.
          Thầy mừng các con.
                Thi:
Bao phen khuyên nhủ mấy đoàn con,
Cạn tiếng ráo hơi trí mỏi mòn,
Vẫn trách đời sao mê-muội quá,
Trơ-trơ gieo họa tội bằng non.
                Thi Bài:
          Ðời chẳng chịu tầm phương giải thoát,
          Ðời tội tình lầm lạc biết bao,
          Ðời vầy còn nói làm sao,
Ðời gây tai họa cho nhau đảo huyền.
          Ðời chác những não phiền khổ khốc,
          Ðời mê man ngang dọc bạo tàn,
          Ðời người nào đặng giờ an,
Ðời sanh độc-ác ngổ-ngang lẫy-lừng.
          Ðời không Ðạo, lửa hừng cháy dậy,
          Ðời lo phương vùng vẫy tránh tai,
          Ðời càng trăm đắng ngàn cay,
Ðời càng lắm giọng mĩa mai nịnh tà.
          Ðời nên lánh cho xa nghiệp-báo,
          Ðời phải tầm chơn Ðạo tu thân,
          Ðời sao tiều-tụy tinh-thần,
Ðời hưng vật-chất người gần diệt vong.
          Ðời ai cũng mong lòng thủ lợi,
          Ðời Ðạo khai để khượi chơn-thành,
          Ðời người ma quỉ rấp-ranh,
Ðời như trái chín trên cành gió đưa.
          Ðời chung chịu gió mưa nóng lạnh,
          Ðời sao đời tranh cạnh lẫn nhau?
          Ðời người tâm trí lảng-xao,
Ðời ưa náo-nhiệt sắc màu dị-đoan.
          Ðời lanh lợi khôn ngoan mau chết,
          Ðời chừng nào diệt hết oan-khiên,
          Ðời còn loạn-lạc ngửa-nghiêng,
Ðời không bền-bỉ vững-yên nhiều ngày.
          Ðời phải chịu Thiên-tai, Ðịa-ách,
          Ðời phạt hình một cách gớm-ghê,
          Ðời xa chơn-lý giác mê,
Ðời sao quá đỗi vụng-về chẳng lo.
          Ðời a mãi trong lò sanh hóa,
          Ðời sóng tình xô ngã non cao,
          Ðời như đèn đã hết dầu,
Ðời hưng chánh-giáo người hầu mở mang.
          Ðời mở mang về đàng Ðạo-đức,
          Ðời mở mang trí thức tinh thần,
          Ðời tròn trung hiếu nghĩa nhân,
Ðời mà biết Ðạo thì gần Phật, Tiên.
          Ðời tu luyện hy Hiền hy Thánh,
          Ðời chấn hưng nước mạnh dân giàu,
          Ðời tu chỗ thấp đến cao,
Ðời lo giúp lẫn đồng-bào chúng-sanh.
          Ðời biết phăn nguồn lành cội phước,
          Ðời cá hồ vùng vượt biển đông,
          Ðời hưng chánh-lý Ðại-Ðồng,
Ðời qui một gốc lập công tu hành.
                Thi:
Hành theo Ðạo-đức trọn đời an,
Luyện tánh hư không nhập Niết-Bàn,
Quét sạch bợn trần tâm chí tịnh,
Thông thương trên dưới Ðạo huy-hoàng.

          Thầy ban ơn các con. Thầy thăng.

Ngày 25 tháng 8 - Bính-Tý (1936)
QUẢ BÁO LUÂN HỒI
                Thi:
NGỌC linh trước mắt mấy ai tường,
HOÀNG-phụ thấy đời xiết nỗi thương,
THƯỢNG đạt nên người chưa mấy kẻ,
ÐẾ Thiên thương xót đến đem đường.
          Thầy mừng các con.
                Thi:
Thinh thang bao quát cả Càn-Khôn,
Thế-giới hư-linh thế-giới hồn,
Hồn xác lẫn nhau bồi quả kiếp,
Xanh xanh qua lại lúc hoàng hôn.
          Thầy thấy đời quá ư tội lỗi, nhơn sanh xua đuổi về đường vật-chất làm tiêu mất nẻo linh-quang, mảng vui say ưa thích danh vọng lợi quyền, nào thấu đáo máy hành-tàng cơ dĩ định.
          Nay nhằm thời kỳ tận diệt, cuộc dinh hư tiêu trưởng sắp bày, người người còn mê mẫn đắm say theo tửu, khí, sắc, tài, nào có hay sự sắp khổ bên tai, cơ xáo lộn biến thiên, đó là muôn vật chịu tiêu diệt đọa đày trong Thiên Ðịa đại-luân-hồi.  Cơ mạt kiếp hầu kề, nên chi Thầy không nỡ để cho bầy con phải chịu tận vong, hiệp Tam-Giáo, hội đồng Phật, Thánh, Tiên mà hưng truyền Ðại- Ðạo.  Vì ở thế gian cũng có người lành, kẻ dữ, đứa hiền lương Ðạo-đức chuộng tinh thần, ham ích chúng, còn đứa lại hung ác bạo tàn mê vật chất, mến tình đời, mà xa đàng Thiên Ðạo.  Thầy thấy vậy, không lẽ để các con cả lành lẫn dữ chung chịu trong cơ biến đổi của cuộc tang thương, nên giáng thế lập Chơn-Ðạo, khai Chơn-Giáo Ðại-Học- Ðường là minh đức tân dân, chỉ ư chí thiện.  Con nào biết thì noi theo đó mà làm phương-pháp thoát ra khỏi đường sanh tử.
                Thi:
CAO-ÐÀI ÐẠI-ÐẠO đức minh thông,
Giáo dục hồn dân đến cảnh không,
Qui-củ chuẩn-thằng nền tảng Ðạo,
Linh-hồn tấn-hóa giữ đều công.
                Trường Thiên:
          Công bình Tạo-Hóa hay thương,
Thương đời nên phải dùng phương cứu đời.
          Cơ mầu nhiệm Phật, Trời ẩn giấu,
          Pháp tâm-truyền tri thấu bổn nguyên,
          Gầy nên thủy tú sơn xuyên,
Toàn thông tuyệt xảo diệu-huyền ẩn vi.
          Người thượng đạt tầm suy nghĩ ngợi,
          Khảo cứu thông vạn đợi tinh vi,
          Âm dương vận chuyển hiệp qui,
Hai năng lực đó cứ thi hành hoài.
          Thầy Chúa Tể hoằng khai Ðạo-đức,
          Nắm mối giềng hiệp nhứt Càn-Khôn,
          Chia ra biết mấy nhiêu hồn,
Nhập vào vật chất bảo tồn cơ quan.
          Ba Tôn-Giáo vén màn bí mật,
          Rõ pháp linh Tiên Phật sắp bày,
          Cho đời biết lý Ðạo khai,
Linh-hồn ảnh hưởng trần ai lẽ nào.
          Từ thảo mộc được vào nhơn loại,
          Quả kiếp nhồi mắc phải khổ lao,
          Càng bền chí bước càng cao,
Càng tu luyện mãi càng vào cảnh Tiên.
          Linh-hồn rất linh thiêng biến hóa,
          Ðoạt thần thông phép lạ vô hình,
          Thiệt là chí bửu trường sanh,
Luyện cho đắc huệ khiết thanh hoàn toàn.
          Khí hư vô bao trùm Thái-Cực,
          Thái-Cực ngôi độc nhứt chủ trương,
          Thần thông biến hóa khôn lường,
Cơ quan đồng mở phi thường Ðạo CAO.
          Lý quang-minh bao trùm Võ-Trụ,
          Tạo Càn-Khôn khí cụ sắp bày,
          Tri nguyên quá khứ vị lai,
Gầy nên các giống đặt bày vẻ vang.
          Thái-Cực Ðại-Linh-Quang nguyên thỉ,
          Ðộng tịnh cơ lý khí tương hòa,
          Ở trong một khối chia ra,
Thiên hình vạn trạng tinh ba ẩn tàng.
          Mỗi vật có linh-quang cư tại,
          Hồn thiêng-liêng vạn tải sanh tồn,
          Lạ gì có dại có khôn,
Bởi chưng thanh trược nên hồn thấp cao.
          Linh-quang chịu nhập vào vật-chất,
          Vật-chất nhờ tánh Phật điểm khai,
          Linh-hồn bỏ xác ra ngoài,
Thì trong vật-chất hình hài tiêu tan.
          Linh-hồn được mở mang thông thái,
          Kinh nghiệm đời quấy phải phân minh,
          Nhập trong các món hữu hình,
Lập công bồi đức trau mình nên gương.
          Tấn-hóa mãi trên đường Ðạo-đức,
          Bỏ xác về hiệp nhứt bổn nguyên,
          Thiệt là diệu-diệu huyền-huyền,
Bất tiêu bất diệt là Tiên trên Trời.
          Hồn phải chịu luân-hồi học hỏi,
          Học cho xong các cõi mới thành,
          Học cho rõ cuộc tử sanh,
Rõ đường tấn thối dữ lành giác mê.
          Hồn thanh bạch lo bề Ðạo-đức,
          Tu luyện hầu hiệp nhứt cảnh không,
          Cầu truyền tâm-pháp thần-thông,
Lập tâm thanh tịnh dụng công đêm ngày.
          Ðoạt thấu chỗ bổn-lai diện-mục,
          Rửa sạch lòng phàm-tục bợn-nhơ,
          Trầm-tư mặc-tưởng huyền-cơ,
Thoát thai thần hóa một giờ đắc minh.
          Hồn thoát khỏi tội tình nhơn-quả,
          Ði mãi trong đường cả Phật, Tiên,
          Nên gương đức hạnh lưu truyền,
Thế gian ca tụng người hiền đắc đơn.
          Hồn nào làm bất nhơn phi nghĩa,
          Chịu đọa đày nhiều phía gớm ghê,
          Mang thân ô trược nặng nề,
Linh-hồn mờ-ám muội-mê bao vòng.
          Chừng nào gỡ cho xong thể chất,
          Cột ràng quanh chất-ngất dây chằng,
          Biết nguồn Ðạo-đức tầm phăng,
Ðoạn tiêu dứt sạch vụn vằn cắt ra.
          Cổi lốt trược ngoài da trong bọc,
          Lấy lòng chơn lừa lọc thanh-quang,
          Linh-hồn thong thả nhẹ nhàng,
Hết ưa mùi tục, không màng sướng vui.
          Nợ nhân quả lấp vùi tánh đức,
          Biết ngày nào gỡ dứt tiền khiên,
          Trả vay, vay trả liền liền,
Nhơn nào, quả nấy, nghiệp duyên buộc mình.
          Bóng cong vạy tại hình cong vạy,
          Tội phước đi qua lại không chừng,
          Xác phàm sung sướng vui mừng,
Linh-hồn phải chịu bâng-khuâng não-phiền.
          Gieo giống chi mọc liền giống nấy,
          Cảm vật nào vật ấy ứng cho,
          Coi như trong cái xe bò,
Bánh xe lăn trả kịp giò bước chưn.
          Bò ngừng lại bánh ngừng đứng lại,
          Chậm hay mau là tại nơi bò,
          Bánh xe nó chạy theo giò,
Chạy không cũng tại con bò gây ra.
          Xét lỗi người, lỗi ta ai xét,
          Sương nhà người, người quét đặng thôi,
          Muốn mau thoát kiếp luân-hồi,
Kiếp này rán chịu quả nhồi cho mau.
          Ðời cũng có giàu nghèo cao thấp,
          Tại nơi người tạo lập nó ra,
          Rồi than oán-trách Trời già,
Không ngờ ta chác lấy ta cho nhiều.
          Lòng tham dục bao nhiêu cho đủ,
          Ðể thất tình làm chủ lấy tâm,
          Khiến gây tội ác lỗi lầm,
Người chưng mắc phải vướng nhằm khổ nguy.
          Lòng quấy quá tráo chì thay bạc,
          Mỏi mong lo cố gạt của đời,
          Không dè mắc phải lưới Trời,
Thưa mà không lọt chuyện người mảy lông.
          Luật báo ứng phép công thưởng phạt,
          Hành hồn rồi hành xác chẳng chơi,
          Nhơn nào quả nấy chẳng rời,
Ðòn cân công luật Phật Trời thưởng răn.
          Ðặng quả ngon thì ăn lấy hột,
          Gieo lại mà mai mốt còn ăn,
                   Nhược bằng hưởng quả hột quăng,
Ngày sau thèm khát xin ăn của người.
          Nay đắc thế vui cười cho lắm,
          Sau này thời bụi bặm lấp thân,
          Biết lo bố đức thi ân,
Luân-hồi trở lại hưởng phần cao sang.
          Nhược tánh ác bạo tàn gây họa,
          Kiếp sau mang nghiệp quả phạt hình,
          Sao người chẳng biết sửa mình,
Cơ Trời báo ứng hiển linh rõ ràng.
          Người quân tử vững vàng tâm chí,
          Chọn đường ngay trực chỉ Tây-Phương,
          Kìa là nước mắt muôn đường,
Lại qua quanh quẹo phải tường chọn đi.
          Thấu lý Ðạo vô-vi thanh tịnh,
          Thì tâm hồn an tịnh lo tu,
          Thuận theo lẽ Ðạo ôn nhu,
Tự-nhiên vô sự võng dù mặc ai.
          Lo nhảy thoát ra ngoài khuôn khổ,
          Ðể thất-tình cám dổ hư thân,
          Mượn nhành dương quét bụi trần,
Ðặng cho phát triển tinh-thần cao siêu.
          Ðường quanh cong theo chiều mà bước,
          Chí tâm bền thì được thành công,
          Làm cho chánh-lý lưu thông,
Lập tâm sửa tánh kềm lòng phá mê.
          Kìa biển hẹn non thề phải dứt,
          Dây buộc mình cắt đứt chớ vương,
          Nhu thắng cang, nhược thắng cường,
Mềm còn, cứng bể, thấy thường xưa nay.
          Họa phước ấy không sai báo ứng,
          Mượn kiếp này gieo chứng hậu lai,
          Người tài gặp kẻ cao tài,
Ỷ tài phải chịu mang tai liền liền.
                Thi:
Liền vay liền trả, trả vay hoài,
Linh tánh lộn nhào kiếp hậu lai,
Ðày đọa gỡ xong oan nghiệp trước,
Làm lành hưởng phước chẳng hề sai.
          Sự báo ứng của Trời Ðất sắp bày từ tạo Thiên lập Ðịa.  Hễ người biết tu hành, làm lành, siêng năng Ðạo-đức thì trở lại chỗ cội phước hưởng an.  Còn những kẻ hung-ác bạo-tàn phải chịu dây oan cột trói.
          Trời đất rất công minh, hễ làm lành thì lành trả, gây họa thì họa lai.  Trong thế gian, tại sao có kẻ nghèo người giàu, sang, hèn, khôn, dại?
          Ðó là tại người gây.  Vã thí như các quả riêng mỗi giống cây, sao lại có trái ngọt, trái chua, trái cay, trái đắng, trái chát...  Sự giàu nghèo cũng vậy.  Hễ gieo giống ngọt thì quả ngọt hưởng nhờ, gieo giống chua thì quả chua nó đậu.
          Các con gieo nhiều mọc nhiều, gieo ít mọc ít.  Ngày nay, các con được ấm no phải lo làm phước đức, phải lo gieo nữa đặng mùa sau có mà nuôi thân thể, chớ ăn đứt giống (gặt tuyệt nòi) còn chi sanh trở lại.
                Thi:
Thầy nhỏ ơn lành xuống thế gian,
Ban thêm chén thuốc tỉnh mơ màng,
Biết đường Ðạo-đức là chơn lý,
Thì rán lo tu nhập Niết-Bàn.
                * * *
Niết-Bàn thong thả lắm con ôi!
Thú lạ Thần Tiên khoái lạc rồi,
Thanh-tịnh tiêu-diêu an tự toại,
Ðâu còn chuyển kiếp chịu luân-hồi.
                * * *
Hồi nào lầm-lạc nói làm chi?
Nay gặp Thầy đây bước kịp kỳ,
Còn luyến hồng-trần mang thống khổ,
Hạ-Nguơn tận diệt lắm điều nguy.

          Thầy ban ơn các con. Thầy thăng.
Mồng 10 tháng 8 - Bính-Tý (1936)
LÝ THIÊN NHIÊN VÀ LÝ TỰ NHIÊN
 
          CAO-ÐÀI GIÁO-CHỦ,  Thầy các con.
                Thi:
Cầm cân Tạo-Hóa có đâu riêng,
Chìm đắm kìa ai mất bổn-nguyên,
Biển khổ lao-xao cơn sóng gió,
Sông mê đào-độn lúc chinh-nghiêng.
Tâm-truyền đã lãnh nên bình-tỉnh,
Bí-pháp vừa trao chớ đảo-điên,
Luyện tánh tu tâm hồi cựu-vị,
Như vầy mới đáng lẽ thiên-nhiên.
          Thầy giải về LÝ THIÊN-NHIÊN của Trời và LÝ TỰ-NHIÊN của người.
          Thầy trông thấy cõi dinh-hoàn, nhơn-loại cạnh-tranh xâu-xé, cứ hại lẫn nhau, giết lẫn nhau vì quyền-lợi.  Mảng mưu sự sung-sướng cho thân mà nào là những cuộc truy hoan đã làm cho mất cả tinh thần, đến phải cam thân chìm đắm vào biển trầm-luân, luống bị bốn tường đóng chặt, chớ chẳng biết tu tâm luyện tánh chi, rồi gặp lúc phong ba là phải đành chịu cho sóng dồi gió dập.  Uổng thay! tiếc thay!
          Thể người cũng đồng như Tiên, Phật, mà chẳng đặng cửu viễn trường sanh, thoảng mảng tuổi lối tám mươi, chín chục thời bóng đã xế tà, rồi một kiếp làm người vô dụng, chẳng biết lấy lương-tri, lương-năng mà phán-đoán, xét- suy, mịch tầm chơn-lý thật hành, lại để cho mờ ám tối tăm rồi sa-đọa.  Ấy là vì theo cái lẽ "Tự-Nhiên" của người mà bỏ lý "Thiên-Nhiên" của Trời đó.
          Lý "Thiên-Nhiên" là về tinh thần, nên chỉ chuộng phần linh-hồn cao-siêu mà chẳng coi cái xác thịt trược-nhơ này là ra chi hết.   Bởi vì mỗi con Thầy đã ban cho một cái linh-tánh giáng trần để mượn xác-thân đặng dùng nguơn- tinh mà bảo tồn nguơn-khí hiệp với nguơn-thần, tức là luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, đặng thành Tiên tác Phật mà phản bổn huờn nguyên hầu có thọ hưởng sự thanh nhàn nơi cõi Niết Bàn là chốn thế-giới thiêng-liêng, bất tiêu bất diệt.
          Sông, núi, cỏ cây nơi thế gian dời đổi muôn lần, chớ linh-hồn vạn vật đời đời thung-dung tự-toại.  Nhưng thảm thay có đi mà chẳng biết đường về, xuống hồng-trần rồi đắm-đuối mê-sa mà bỏ tánh tự-nhiên, chẳng lo Ðạo-đức, chẳng biết tầm Chơn-Ðạo cùng Tiên-Thiên Ðại-Ðạo mà thọ pháp, lo tu để hầu trở lại mà về với Thầy.
          Ở cõi trần, hễ sanh ra rồi thì cứ theo lẽ thuận hành âm dương giao phối Hậu-Thiên mới sanh ra ân-ái mà luống chịu buộc mình vào tứ khổ, tứ tường bao quanh vây chặt.  Hễ có ái-ân thời phải sanh-sản ra con cùng cháu (con cháu ấy thuộc về hóa-nhân cũng như hạng cầm thú mới chuyển kiếp đặng làm người vậy).  Cho rằng đặng vậy là hạnh phúc để nối hậu theo cái thường tình nhơn-đạo, chớ nào ngờ ấy là đã vướng ngay vào mặt lưới trần mà khổ lụy với thê-thằng tử-phược buộc ràng vương-vấn trói-trăn.  Ðã vậy nếu có khuyến tu lại còn hẹn mai hẹn mốt.  Thời gian đã qua rồi thì lưng đã mỏi, gối đã dùn, tam bửu mòn hao, ngũ tạng suy yếu.  Ô hô! "Tam thốn khí tại thiên ban dụng, nhứt đán vô thường vạn sự hưu!" Rồi là một kiếp luân-hồi vậy.  Vì con người đã quá trầm-luân thống-khổ, nên nay chính mình Thầy là NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ÐẾ đã động mối từ-tâm, cũng vì tánh đức háo-sanh mà chẳng nỡ để cho con người tiêu diệt, nên mới rọi lằn điển quang giáng ở cõi trần, cốt lập Tiên-Thiên Ðại-Ðạo qui nguyên Tam-Giáo và dùng Tâm-Pháp truyền chơn mà độ rỗi các con.
          Người mà theo Lý Thiên-Nhiên, biết dụng công-phu, nghịch chuyển tinh-khí giao cảm nguơn-thần cho thành Tiên, Phật, dứt bỏ hồng trần thời người ấy là bực Nguyên- Nhân (1).  Còn người mà theo lẽ tự-nhiên, sanh ra ở cõi trần chịu những điều bắt buộc theo việc trần-cấu, sanh-sản về hậu-thiên cơ-ngẫu nữa thì chịu trong luật quả-báo luân- hồi.
                Thi:
Một lý phân hai thuận nghịch hành,
Nghịch hành tu luyện đắc trường sanh,
Vô-Vi Ðại-Ðạo nào ai thấu!
Thấu đặng về nơi tử-phủ thành.
          Thầy ban ơn các con.  Thầy thăng.
                * * *
Chú thích:
Nguyên-Nhân là nguyên khí chất Tiên-Thiên giáng sanh làm người. Hóa-nhân là từ bực côn-trùng, thảo-mộc tiến-hóa lên cho đến loài người.
Mồng 9 tháng 8 - Bính-Tý (1936)
KHỞI TRUNG TÂM ÐẠO
Trung Tâm Ðiểm (Trung Tâm Ðạo "Ðại-Thừa")
          CAO-ÐÀI GIÁO-CHỦ,  Thầy các con.  Thầy mừng các con.
                Thi:
Ðạo cơ sanh-hóa tạo Càn-Khôn,
Ðạo bổn hư-vô vĩnh-viễn tồn,
Ðạo pháp Tam-Thanh Tam-Giáo độ,
Ðạo qui tam ngũ luyện thuần-phong.
          Ðạo là hư-vô chi-khí, phân định âm dương, tạo thành Trời Ðất, rồi nhờ thanh trược hỗn hiệp, âm dương giao phối mà sanh hóa ra vật-chất muôn loài, lần lần đến thảo mộc, thú cầm và nhơn loại.  Nên cả thảy đều có cái bổn thể chơn-như chẳng khác gì nhau.
          Con người thọ Tiên-Thiên khí làm linh tánh, rồi giao cảm với Hậu-Thiên âm dương mới thành hình .
          Thân người có tam-bửu ngũ-hành, đó là do nơi cơ Ðạo sanh hóa trọn đủ, đối với Trời vậy.
          Người là Tiểu-Thiên-Ðịa đồng đứng vào bực tam-tài, nên cái kiếp đã sanh hóa ra làm người trong võ-trụ là phải trải qua nhiều lúc khổ nhọc, đớn đau dữ tợn. Vậy muốn thoát khỏi cõi hồng-trần, ly tứ-khổ thời phải lo bồi công lập đức, dưỡng-tánh tu-tâm, tầm học chơn-truyền Ðạo-Pháp mới siêu xuất đặng.  Lời xưa còn tiên tri rằng : " Mạt hậu Thiên khai Huỳnh-Ðạo".  Tiên tri ấy tức là chỉ vào ngày nay Ðạo mở bùng ra cho chúng-sanh tu hành, có gồm cả tam-thừa cửu-phẩm, cũng do nơi qui luật Tam-Giáo mà Thầy chế đổi làm một con đường tắt để đưa các con về cựu-vị.
          Người muốn làm Tiên, Phật,  hay là các vị Tiên, Phật đã đại-giác, đại-ngộ, thành Ðạo đều phải tu từ bực tiểu- thừa rồi mới đến đại-thừa.
          Tiểu-thừa là Nhơn-Ðạo.  Người tu theo bực tiểu-thừa phải chịu dấn thân vào khuôn khổ tôn-giáo.  Tiểu-thừa thì chỉ dạy về hữu hình.  Con người giữ cho tròn theo giới-luật đó tất cũng như mượn con đường hẹp ấy mà nương chơn đi lần đến con đường rộng lớn minh-mông là đại-thừa vậy.
          Người mới tu, Ðạo hạnh phải giữ cho hoàn toàn trước về Nhơn-Ðạo cho xong, rồi sau bèn học đến Thiên-Ðạo là tầm cơ siêu thoát ra khỏi thế-giới vật-chất mà đến cõi thế- giới tinh-thần.
          Bực Ðại-Thừa dạy về vô-hình, nên cần tu tánh luyện mạng, muôn việc có như không có.  Xưa kia KHỔNG-THÁNH cũng đã rõ thông chí lý về đại-thừa trong lúc HẠNG-THÁC truyền trao, nên sau mới thành đến bực Ðại-Thành Chí-Thánh.  Nhưng phần nhiều truyền dạy cho đời là chỉ về đường Nhơn-Ðạo, cứ lo rộng mở cho con người biết luân-thường Ðạo-lý.  Còn về tâm-pháp thì dạy cho có một phần ít trong đệ-tử thôi.  Cho nên đời sau tưởng lầm rằng KHỔNG-THÁNH không hề tu luyện đến Thiên-Ðạo, chớ kỳ trung sao sao cũng phải rõ thông cơ Tạo-Hóa, hòa hiệp máy âm dương mà luyện thành kim-đơn thì mới thành Ðạo đặng.  Vậy Ðại-Thừa tức là "Ðại-học chi Ðạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện".
          Thiên Ðạo nay:
NHO-giáo gọi là: chấp trung quán nhứt.
THÍCH-giáo gọi là: bảo trung qui nhứt.
ÐẠO-giáo gọi là: thủ trung đắc nhứt.
          Người tu đến bực Ðại-Thừa đã thọ chơn-truyền bí- pháp rồi thì cần phải phân chia ngày giờ mà tu luyện cho cái tâm trở nên trong sạch, chẳng bợn hồng trần, phản hồng vi bạch, mà yên tịnh lặng lẽ để đoạt cơ Tạo-Hóa, vào bộ Tiên-gia, hầu thâu tiếp cái huyền-khí của Trời đem hiệp với cái nguơn-khí của người mà tạo thành Tiên-đơn.  Vậy nên đây Thầy dạy kỹ các con tu bực Ðại-Thừa phải cần tầm nơi thanh-khí mà hỗn hiệp âm dương, điều hòa đủ 8 lượng chơn-dương, 8 lượng chơn-âm làm thành một cân đại-dược tại cung "LY" rồi điều dưỡng đủ thập ngoạt hoài thai, tam niên nhũ bộ thì cái chơn-thân mới giao tiếp Tiên- Thiên mà nhập xuất Thiên-môn được; song cũng do nơi Thầy tùy công đức mà bố hóa cho các con.
                Thi:
Luyện-tánh tu-tâm học Ðạo mầu,
Tam-Thanh Chơn-Pháp Ðạo tham cầu,
Chơn-thân hiện xuất thông Thiên-Ðạo,
Thượng tiếp Tiên-Thiên thoát địa-cầu.

          Thầy ban ơn các con.  Thầy thăng.

Ngày 25 tháng 8 - Bính-Tý (1936)
KHUYẾN TU CHO THUẬN THIÊN-Ý
                Thi:
CAO thượng Ðạo truyền giải nạn eo,
ÐÀI linh trú ngụ lúc buồn teo,
TIÊN-Thiên diệu-pháp khai tâm giác,
ÔNG độ người mê khỏi hiểm-nghèo.
          Thầy mừng các con.
          Giờ nay, Thầy giáng đàn để đôi lời bí-khuyết tâm- truyền cho các con dò xét, tầm tu cho thuận Thiên-Ðạo, thoát cảnh diêm-phù, tránh khỏi lưới trần-lao nhốt hãm.
                Phú:
          Cơ mầu nhiệm của Tạo-Ðoan, ẩn vi có tầm suy mới thấu đáo,
          Pháp tâm-truyền, đường Chơn-Ðạo, phải gia công tham khảo mới tường tri.
          Lý hư-vô cần phải nghĩ suy, vạn pháp nhiệm vô-vi cao thượng.
          Kìa Phật, Thánh, Tiên, phí bao công tìm cho ra chơn- tướng.
          Ðoạt lẽ Trời ảnh-hưởng lý đương nhiên,
          Ôi! là đời chịu: buồn, lo, khổ, nạn, não-phiền,
          Mang nhơn-quả nối chuyền đời này sang kiếp nọ,
          Vì vật-dục đẩy đưa con người vào nẻo khó,
          Kiếp đọa-đày sao dứt bỏ được trái-chủ oan-gia.
 
          Các con muốn thông-suốt lý tinh-vi thì cần phải sửa tâm cho chính-đính, tập tánh chí-thiện chí-mỹ cho hiệp lẽ điều-hòa, thuận tùng Chơn-Ðạo.
          Trong cơ mầu-nhiệm của Phật Trời rất nhiều phép lạ, nhưng không bao giờ các con lấy mắt thịt, trí phàm, tai tục mà dò xét thấu lẽ hư-linh đâu?
          Các con muốn thấu lẽ hư-linh, trước phải định cái tâm, gìn cái ý, nhắm mắt, bít tai thì có lẽ rõ chút ít.
          Trong pháp-nhiệm, nó ẩn-vi sâu kín cao xa dầu lấy nước biển vẽ-vời cũng không suốt lý.  Thánh trước Hiền xưa ra công tham khảo, mãn kiếp cùng đời mà vén chưa đặng cái màn bí-mật của Tạo-Hóa đón ngăn.  Nhưng cần nhứt là trầm-tư mặc-tưởng, nhập-định tham-thiền thì gặp Chơn-Tiên khẩu truyền cho rõ Ðạo, chớ sự mầu-nhiệm tuyệt xảo của Trời, dẫu Phật, Tiên chưa tri nổi.
          Các con ngày hôm nay gặp Ðạo Thầy hoằng-hóa thì cần lập chí luyện phanh, đem cái bổn tánh hư-linh trở về ngôi vị cũ.  Ngày giờ cuối cùng, Thầy vì thương yêu các con phải giáng phàm mà dìu dắt các con trở lại, nhưng các con phải hết lòng, đừng ỷ mình, hay là tưởng Thầy thương yêu rồi biếng nhác.  Các con nên biết rằng: dầu Thầy cũng phải chịu dưới quyền luật của Ðạo thay.
          Các con bị mang xác thịt nặng nề, ngũ-trược chận đè, linh tánh lấp vùi trong đó, Thầy thương yêu các con là Thầy điểm hóa cho các con.  Các con phải vùng-vẫy mà nhẩy ra cho khỏi non đè núi chận, chớ đừng ngồi đó hoài đặng chờ Thầy bồng ẵm, không đặng đâu các con!
          Ðạo là phân thanh khử trược.  Hễ nhẹ nhàng trong sạch thì được hiệp nhứt cùng Thầy, còn nặng nề, mê-muội phải chìm xuống đáy.  Vậy các con phải luyện cho đắc tánh thuần-dương mới ở vào cảnh thiêng-liêng đặng.  Cảnh thiêng-liêng là không khí nhẹ nhàng hơn trăm ngàn lần không khí ở gần các con.  Các con còn nhơ bợn một chút cũng không thể ở đặng.  Thầy nói sự  "di-sơn đảo-hải"  là chuyện thường của Tiên, Thánh, nhưng dời non đổi biển thì dễ, chớ đem các con trở lại thì khó lắm.  Non biển tuy nặng nề nhưng không có mang thất-tình lục-dục, chớ xác phàm con người, tuy nhỏ nhít, mà lẫn cả sự dục-vọng tà-tâm, nên nặng-nề hơn muôn ngàn hòn núi.  Thầy có thương các con cũng không thể ẵm bồng cho đặng.  Vậy các con phải dùng phương pháp tu-tánh luyện-mạng, khử trược lưu thanh mà thoát ra khỏi luân-hồi lục-đạo.
            Trường Thiên:
          Ðạo Trời chỉnh-phục linh-căn,
Cầu truyền pháp nhiệm tầm phăng trở về.
          Trần hồng biển khổ sông mê,
Chịu mang xác thịt nặng-nề muội-si.
          Thiên-cơ khép mở nhiều khi,
Hồi tâm kinh nghiệm vô-vi Ðạo mầu.
          Pháp-linh có dễ tầm đâu!
Phật, Tiên chọn lựa mà trao người hiền.
          Thuộc về khẩu-thọ tâm-truyền,
Biết rồi thì cứ chỉ truyền cho nhau.
          Ðạo Thầy không luận thấp cao,
Muốn tu thì đặng nhập vào cảnh Tiên.
          Thấy đời lầm-lạc đảo-điên,
Nên minh Chơn-Lý Ðạo-huyền thông-linh.
          Chẳng dùng sắc-tướng âm-thinh,
Giữ tâm thanh-tịnh Ðạo minh rõ ràng.
          Bí-truyền là pháp minh-quang,
Không bày vẽ đặng rõ-ràng ở đâu!
          Làm cho khó hiểu nhiệm mầu,
Nên chi phải chịu lạc vào Bàng-Môn.
          Ðạo Thầy cốt trọng linh-hồn,
Tin cơ cảm-ứng bảo tồn vạn-linh.
                Thi:
Linh-diệu thần-thông Ðạo-Pháp truyền,
Truyền lời bí-khuyết độ nhơn-nguyên,
Nguyên lai bổ thể tu dương khí,
Khí tụ đơn thành thượng cửu Thiên.
          Thầy ban ơn các con.  Thầy thăng.

No comments:

Post a Comment