Ngày 18 tháng 8 - Bính-Tý (1936)
TRÁCH ÐỜI
Thi:
CAO ban ân-huệ tẩm
nhuần chung,
ÐÀI ngọc hào-quang
điệp-điệp trùng,
BỒ bặc Ðạo qui cơ tại
mục,
TÁT thành Chơn-Giáo
bảo tâm trung.
Thầy
mừng các con.
Thi:
Bao phen khuyên nhủ
mấy đoàn con,
Cạn tiếng ráo hơi trí
mỏi mòn,
Vẫn trách đời sao
mê-muội quá,
Trơ-trơ gieo họa tội
bằng non.
Thi Bài:
Ðời chẳng chịu
tầm phương giải thoát,
Ðời tội tình lầm
lạc biết bao,
Ðời vầy còn nói
làm sao,
Ðời gây tai họa cho nhau đảo huyền.
Ðời chác những
não phiền khổ khốc,
Ðời mê man ngang
dọc bạo tàn,
Ðời người nào
đặng giờ an,
Ðời sanh độc-ác ngổ-ngang lẫy-lừng.
Ðời không Ðạo,
lửa hừng cháy dậy,
Ðời lo phương
vùng vẫy tránh tai,
Ðời càng trăm
đắng ngàn cay,
Ðời càng lắm giọng mĩa mai nịnh tà.
Ðời nên lánh cho
xa nghiệp-báo,
Ðời phải tầm chơn
Ðạo tu thân,
Ðời sao tiều-tụy
tinh-thần,
Ðời hưng vật-chất người gần diệt vong.
Ðời ai cũng mong
lòng thủ lợi,
Ðời Ðạo khai để
khượi chơn-thành,
Ðời người ma quỉ
rấp-ranh,
Ðời như trái chín trên cành gió đưa.
Ðời chung chịu
gió mưa nóng lạnh,
Ðời sao đời tranh
cạnh lẫn nhau?
Ðời người tâm trí
lảng-xao,
Ðời ưa náo-nhiệt sắc màu dị-đoan.
Ðời lanh lợi khôn
ngoan mau chết,
Ðời chừng nào
diệt hết oan-khiên,
Ðời còn loạn-lạc
ngửa-nghiêng,
Ðời không bền-bỉ vững-yên nhiều ngày.
Ðời phải chịu
Thiên-tai, Ðịa-ách,
Ðời phạt hình một
cách gớm-ghê,
Ðời xa chơn-lý
giác mê,
Ðời sao quá đỗi vụng-về chẳng lo.
Ðời a mãi trong
lò sanh hóa,
Ðời sóng tình xô
ngã non cao,
Ðời như đèn đã
hết dầu,
Ðời hưng chánh-giáo người hầu mở mang.
Ðời mở mang về
đàng Ðạo-đức,
Ðời mở mang trí
thức tinh thần,
Ðời tròn trung
hiếu nghĩa nhân,
Ðời mà biết Ðạo thì gần Phật, Tiên.
Ðời tu luyện hy
Hiền hy Thánh,
Ðời chấn hưng
nước mạnh dân giàu,
Ðời tu chỗ thấp
đến cao,
Ðời lo giúp lẫn đồng-bào chúng-sanh.
Ðời biết phăn
nguồn lành cội phước,
Ðời cá hồ vùng
vượt biển đông,
Ðời hưng chánh-lý
Ðại-Ðồng,
Ðời qui một gốc lập công tu hành.
Thi:
Hành theo Ðạo-đức
trọn đời an,
Luyện tánh hư không
nhập Niết-Bàn,
Quét sạch bợn trần
tâm chí tịnh,
Thông thương trên
dưới Ðạo huy-hoàng.
Thầy ban ơn các
con. Thầy thăng.
Ngày 25 tháng 8 - Bính-Tý (1936)
QUẢ BÁO LUÂN HỒI
Thi:
NGỌC linh trước mắt
mấy ai tường,
HOÀNG-phụ thấy đời xiết
nỗi thương,
THƯỢNG đạt nên người
chưa mấy kẻ,
ÐẾ Thiên thương xót
đến đem đường.
Thầy
mừng các con.
Thi:
Thinh thang bao quát
cả Càn-Khôn,
Thế-giới hư-linh
thế-giới hồn,
Hồn xác lẫn nhau bồi
quả kiếp,
Xanh xanh qua lại lúc
hoàng hôn.
Thầy
thấy đời quá ư tội lỗi, nhơn sanh xua đuổi về đường vật-chất làm tiêu mất nẻo
linh-quang, mảng vui say ưa thích danh vọng lợi quyền, nào thấu đáo máy
hành-tàng cơ dĩ định.
Nay
nhằm thời kỳ tận diệt, cuộc dinh hư tiêu trưởng sắp bày, người người còn mê mẫn
đắm say theo tửu, khí, sắc, tài, nào có hay sự sắp khổ bên tai, cơ xáo lộn biến
thiên, đó là muôn vật chịu tiêu diệt đọa đày trong Thiên Ðịa đại-luân-hồi. Cơ mạt kiếp hầu kề, nên chi Thầy không nỡ để
cho bầy con phải chịu tận vong, hiệp Tam-Giáo, hội đồng Phật, Thánh, Tiên mà
hưng truyền Ðại- Ðạo. Vì ở thế gian cũng
có người lành, kẻ dữ, đứa hiền lương Ðạo-đức chuộng tinh thần, ham ích chúng,
còn đứa lại hung ác bạo tàn mê vật chất, mến tình đời, mà xa đàng Thiên
Ðạo. Thầy thấy vậy, không lẽ để các con
cả lành lẫn dữ chung chịu trong cơ biến đổi của cuộc tang thương, nên giáng thế
lập Chơn-Ðạo, khai Chơn-Giáo Ðại-Học- Ðường là minh đức tân dân, chỉ ư chí
thiện. Con nào biết thì noi theo đó mà
làm phương-pháp thoát ra khỏi đường sanh tử.
Thi:
CAO-ÐÀI ÐẠI-ÐẠO đức
minh thông,
Giáo dục hồn dân đến
cảnh không,
Qui-củ chuẩn-thằng
nền tảng Ðạo,
Linh-hồn tấn-hóa giữ
đều công.
Trường Thiên:
Công bình Tạo-Hóa
hay thương,
Thương đời nên phải dùng phương cứu đời.
Cơ mầu nhiệm Phật,
Trời ẩn giấu,
Pháp tâm-truyền
tri thấu bổn nguyên,
Gầy nên thủy tú
sơn xuyên,
Toàn thông tuyệt xảo diệu-huyền ẩn vi.
Người thượng đạt
tầm suy nghĩ ngợi,
Khảo cứu thông
vạn đợi tinh vi,
Âm dương vận
chuyển hiệp qui,
Hai năng lực đó cứ thi hành hoài.
Thầy Chúa Tể
hoằng khai Ðạo-đức,
Nắm mối giềng
hiệp nhứt Càn-Khôn,
Chia ra biết mấy
nhiêu hồn,
Nhập vào vật chất bảo tồn cơ quan.
Ba Tôn-Giáo vén
màn bí mật,
Rõ pháp linh Tiên
Phật sắp bày,
Cho đời biết lý
Ðạo khai,
Linh-hồn ảnh hưởng trần ai lẽ nào.
Từ thảo mộc được
vào nhơn loại,
Quả kiếp nhồi mắc
phải khổ lao,
Càng bền chí bước
càng cao,
Càng tu luyện mãi càng vào cảnh Tiên.
Linh-hồn rất linh
thiêng biến hóa,
Ðoạt thần thông
phép lạ vô hình,
Thiệt là chí bửu
trường sanh,
Luyện cho đắc huệ khiết thanh hoàn toàn.
Khí hư vô bao
trùm Thái-Cực,
Thái-Cực ngôi độc
nhứt chủ trương,
Thần thông biến
hóa khôn lường,
Cơ quan đồng mở phi thường Ðạo CAO.
Lý quang-minh bao
trùm Võ-Trụ,
Tạo Càn-Khôn khí
cụ sắp bày,
Tri nguyên quá
khứ vị lai,
Gầy nên các giống đặt bày vẻ vang.
Thái-Cực
Ðại-Linh-Quang nguyên thỉ,
Ðộng tịnh cơ lý
khí tương hòa,
Ở trong một khối
chia ra,
Thiên hình vạn trạng tinh ba ẩn tàng.
Mỗi vật có
linh-quang cư tại,
Hồn thiêng-liêng
vạn tải sanh tồn,
Lạ gì có dại có
khôn,
Bởi chưng thanh trược nên hồn thấp cao.
Linh-quang chịu
nhập vào vật-chất,
Vật-chất nhờ tánh
Phật điểm khai,
Linh-hồn bỏ xác
ra ngoài,
Thì trong vật-chất hình hài tiêu tan.
Linh-hồn được mở
mang thông thái,
Kinh nghiệm đời
quấy phải phân minh,
Nhập trong các
món hữu hình,
Lập công bồi đức trau mình nên gương.
Tấn-hóa mãi trên
đường Ðạo-đức,
Bỏ xác về hiệp
nhứt bổn nguyên,
Thiệt là
diệu-diệu huyền-huyền,
Bất tiêu bất diệt là Tiên trên Trời.
Hồn phải chịu
luân-hồi học hỏi,
Học cho xong các
cõi mới thành,
Học cho rõ cuộc
tử sanh,
Rõ đường tấn thối dữ lành giác mê.
Hồn thanh bạch lo
bề Ðạo-đức,
Tu luyện hầu hiệp
nhứt cảnh không,
Cầu truyền
tâm-pháp thần-thông,
Lập tâm thanh tịnh dụng công đêm ngày.
Ðoạt thấu chỗ
bổn-lai diện-mục,
Rửa sạch lòng phàm-tục
bợn-nhơ,
Trầm-tư mặc-tưởng
huyền-cơ,
Thoát thai thần hóa một giờ đắc minh.
Hồn thoát khỏi
tội tình nhơn-quả,
Ði mãi trong
đường cả Phật, Tiên,
Nên gương đức
hạnh lưu truyền,
Thế gian ca tụng người hiền đắc đơn.
Hồn nào làm bất
nhơn phi nghĩa,
Chịu đọa đày
nhiều phía gớm ghê,
Mang thân ô trược
nặng nề,
Linh-hồn mờ-ám muội-mê bao vòng.
Chừng nào gỡ cho
xong thể chất,
Cột ràng quanh
chất-ngất dây chằng,
Biết nguồn
Ðạo-đức tầm phăng,
Ðoạn tiêu dứt sạch vụn vằn cắt ra.
Cổi lốt trược
ngoài da trong bọc,
Lấy lòng chơn lừa
lọc thanh-quang,
Linh-hồn thong
thả nhẹ nhàng,
Hết ưa mùi tục, không màng sướng vui.
Nợ nhân quả lấp
vùi tánh đức,
Biết ngày nào gỡ
dứt tiền khiên,
Trả vay, vay trả
liền liền,
Nhơn nào, quả nấy, nghiệp duyên buộc mình.
Bóng cong vạy tại
hình cong vạy,
Tội phước đi qua
lại không chừng,
Xác phàm sung
sướng vui mừng,
Linh-hồn phải chịu bâng-khuâng não-phiền.
Gieo giống chi
mọc liền giống nấy,
Cảm vật nào vật
ấy ứng cho,
Coi như trong cái
xe bò,
Bánh xe lăn trả kịp giò bước chưn.
Bò ngừng lại bánh
ngừng đứng lại,
Chậm hay mau là
tại nơi bò,
Bánh xe nó chạy
theo giò,
Chạy không cũng tại con bò gây ra.
Xét lỗi người,
lỗi ta ai xét,
Sương nhà người,
người quét đặng thôi,
Muốn mau thoát
kiếp luân-hồi,
Kiếp này rán chịu quả nhồi cho mau.
Ðời cũng có giàu
nghèo cao thấp,
Tại nơi người tạo
lập nó ra,
Rồi than
oán-trách Trời già,
Không ngờ ta chác lấy ta cho nhiều.
Lòng tham dục bao
nhiêu cho đủ,
Ðể thất tình làm
chủ lấy tâm,
Khiến gây tội ác
lỗi lầm,
Người chưng mắc phải vướng nhằm khổ nguy.
Lòng quấy quá
tráo chì thay bạc,
Mỏi mong lo cố
gạt của đời,
Không dè mắc phải
lưới Trời,
Thưa mà không lọt chuyện người mảy lông.
Luật báo ứng phép
công thưởng phạt,
Hành hồn rồi hành
xác chẳng chơi,
Nhơn nào quả nấy
chẳng rời,
Ðòn cân công luật Phật Trời thưởng răn.
Ðặng quả ngon thì
ăn lấy hột,
Gieo lại mà mai
mốt còn ăn,
Nhược
bằng hưởng quả hột quăng,
Ngày sau thèm khát xin ăn của người.
Nay đắc thế vui
cười cho lắm,
Sau này thời bụi
bặm lấp thân,
Biết lo bố đức
thi ân,
Luân-hồi trở lại hưởng phần cao sang.
Nhược tánh ác bạo
tàn gây họa,
Kiếp sau mang
nghiệp quả phạt hình,
Sao người chẳng
biết sửa mình,
Cơ Trời báo ứng hiển linh rõ ràng.
Người quân tử
vững vàng tâm chí,
Chọn đường ngay trực
chỉ Tây-Phương,
Kìa là nước mắt
muôn đường,
Lại qua quanh quẹo phải tường chọn đi.
Thấu lý Ðạo vô-vi
thanh tịnh,
Thì tâm hồn an
tịnh lo tu,
Thuận theo lẽ Ðạo
ôn nhu,
Tự-nhiên vô sự võng dù mặc ai.
Lo nhảy thoát ra
ngoài khuôn khổ,
Ðể thất-tình cám
dổ hư thân,
Mượn nhành dương
quét bụi trần,
Ðặng cho phát triển tinh-thần cao siêu.
Ðường quanh cong
theo chiều mà bước,
Chí tâm bền thì
được thành công,
Làm cho chánh-lý
lưu thông,
Lập tâm sửa tánh kềm lòng phá mê.
Kìa biển hẹn non
thề phải dứt,
Dây buộc mình cắt
đứt chớ vương,
Nhu thắng cang,
nhược thắng cường,
Mềm còn, cứng bể, thấy thường xưa nay.
Họa phước ấy
không sai báo ứng,
Mượn kiếp này
gieo chứng hậu lai,
Người tài gặp kẻ
cao tài,
Ỷ tài phải chịu mang tai liền liền.
Thi:
Liền vay liền trả,
trả vay hoài,
Linh tánh lộn nhào
kiếp hậu lai,
Ðày đọa gỡ xong oan
nghiệp trước,
Làm lành hưởng phước
chẳng hề sai.
Sự
báo ứng của Trời Ðất sắp bày từ tạo Thiên lập Ðịa. Hễ người biết tu hành, làm lành, siêng năng
Ðạo-đức thì trở lại chỗ cội phước hưởng an.
Còn những kẻ hung-ác bạo-tàn phải chịu dây oan cột trói.
Trời
đất rất công minh, hễ làm lành thì lành trả, gây họa thì họa lai. Trong thế gian, tại sao có kẻ nghèo người
giàu, sang, hèn, khôn, dại?
Ðó
là tại người gây. Vã thí như các quả
riêng mỗi giống cây, sao lại có trái ngọt, trái chua, trái cay, trái đắng, trái
chát... Sự giàu nghèo cũng vậy. Hễ gieo giống ngọt thì quả ngọt hưởng nhờ,
gieo giống chua thì quả chua nó đậu.
Các
con gieo nhiều mọc nhiều, gieo ít mọc ít.
Ngày nay, các con được ấm no phải lo làm phước đức, phải lo gieo nữa
đặng mùa sau có mà nuôi thân thể, chớ ăn đứt giống (gặt tuyệt nòi) còn chi sanh
trở lại.
Thi:
Thầy nhỏ ơn lành
xuống thế gian,
Ban thêm chén thuốc
tỉnh mơ màng,
Biết đường Ðạo-đức là
chơn lý,
Thì rán lo tu nhập
Niết-Bàn.
* * *
Niết-Bàn thong thả
lắm con ôi!
Thú lạ Thần Tiên
khoái lạc rồi,
Thanh-tịnh tiêu-diêu
an tự toại,
Ðâu còn chuyển kiếp
chịu luân-hồi.
* * *
Hồi nào lầm-lạc nói
làm chi?
Nay gặp Thầy đây bước
kịp kỳ,
Còn luyến hồng-trần
mang thống khổ,
Hạ-Nguơn tận diệt lắm
điều nguy.
Thầy ban ơn các con. Thầy thăng.
Mồng 10 tháng 8 - Bính-Tý (1936)
LÝ THIÊN NHIÊN VÀ LÝ
TỰ NHIÊN
CAO-ÐÀI
GIÁO-CHỦ, Thầy các con.
Thi:
Cầm cân Tạo-Hóa có
đâu riêng,
Chìm đắm kìa ai mất
bổn-nguyên,
Biển khổ lao-xao cơn
sóng gió,
Sông mê đào-độn lúc
chinh-nghiêng.
Tâm-truyền đã lãnh
nên bình-tỉnh,
Bí-pháp vừa trao chớ
đảo-điên,
Luyện tánh tu tâm hồi
cựu-vị,
Như vầy mới đáng lẽ
thiên-nhiên.
Thầy
giải về LÝ THIÊN-NHIÊN của Trời và LÝ TỰ-NHIÊN của người.
Thầy
trông thấy cõi dinh-hoàn, nhơn-loại cạnh-tranh xâu-xé, cứ hại lẫn nhau, giết
lẫn nhau vì quyền-lợi. Mảng mưu sự
sung-sướng cho thân mà nào là những cuộc truy hoan đã làm cho mất cả tinh thần,
đến phải cam thân chìm đắm vào biển trầm-luân, luống bị bốn tường đóng chặt,
chớ chẳng biết tu tâm luyện tánh chi, rồi gặp lúc phong ba là phải đành chịu
cho sóng dồi gió dập. Uổng thay! tiếc
thay!
Thể
người cũng đồng như Tiên, Phật, mà chẳng đặng cửu viễn trường sanh, thoảng mảng
tuổi lối tám mươi, chín chục thời bóng đã xế tà, rồi một kiếp làm người vô
dụng, chẳng biết lấy lương-tri, lương-năng mà phán-đoán, xét- suy, mịch tầm
chơn-lý thật hành, lại để cho mờ ám tối tăm rồi sa-đọa. Ấy là vì theo cái lẽ "Tự-Nhiên" của
người mà bỏ lý "Thiên-Nhiên" của Trời đó.
Lý
"Thiên-Nhiên" là về tinh thần, nên chỉ chuộng phần linh-hồn cao-siêu
mà chẳng coi cái xác thịt trược-nhơ này là ra chi hết. Bởi vì mỗi con Thầy đã ban cho một cái
linh-tánh giáng trần để mượn xác-thân đặng dùng nguơn- tinh mà bảo tồn
nguơn-khí hiệp với nguơn-thần, tức là luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần,
đặng thành Tiên tác Phật mà phản bổn huờn nguyên hầu có thọ hưởng sự thanh nhàn
nơi cõi Niết Bàn là chốn thế-giới thiêng-liêng, bất tiêu bất diệt.
Sông,
núi, cỏ cây nơi thế gian dời đổi muôn lần, chớ linh-hồn vạn vật đời đời
thung-dung tự-toại. Nhưng thảm thay có
đi mà chẳng biết đường về, xuống hồng-trần rồi đắm-đuối mê-sa mà bỏ tánh
tự-nhiên, chẳng lo Ðạo-đức, chẳng biết tầm Chơn-Ðạo cùng Tiên-Thiên Ðại-Ðạo mà
thọ pháp, lo tu để hầu trở lại mà về với Thầy.
Ở
cõi trần, hễ sanh ra rồi thì cứ theo lẽ thuận hành âm dương giao phối Hậu-Thiên
mới sanh ra ân-ái mà luống chịu buộc mình vào tứ khổ, tứ tường bao quanh vây
chặt. Hễ có ái-ân thời phải sanh-sản ra
con cùng cháu (con cháu ấy thuộc về hóa-nhân cũng như hạng cầm thú mới chuyển
kiếp đặng làm người vậy). Cho rằng đặng
vậy là hạnh phúc để nối hậu theo cái thường tình nhơn-đạo, chớ nào ngờ ấy là đã
vướng ngay vào mặt lưới trần mà khổ lụy với thê-thằng tử-phược buộc ràng
vương-vấn trói-trăn. Ðã vậy nếu có
khuyến tu lại còn hẹn mai hẹn mốt. Thời
gian đã qua rồi thì lưng đã mỏi, gối đã dùn, tam bửu mòn hao, ngũ tạng suy
yếu. Ô hô! "Tam thốn khí tại thiên
ban dụng, nhứt đán vô thường vạn sự hưu!" Rồi là một kiếp luân-hồi
vậy. Vì con người đã quá trầm-luân thống-khổ,
nên nay chính mình Thầy là NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ÐẾ đã động mối từ-tâm, cũng vì
tánh đức háo-sanh mà chẳng nỡ để cho con người tiêu diệt, nên mới rọi lằn điển
quang giáng ở cõi trần, cốt lập Tiên-Thiên Ðại-Ðạo qui nguyên Tam-Giáo và dùng
Tâm-Pháp truyền chơn mà độ rỗi các con.
Người
mà theo Lý Thiên-Nhiên, biết dụng công-phu, nghịch chuyển tinh-khí giao cảm
nguơn-thần cho thành Tiên, Phật, dứt bỏ hồng trần thời người ấy là bực Nguyên-
Nhân (1). Còn người mà theo lẽ tự-nhiên,
sanh ra ở cõi trần chịu những điều bắt buộc theo việc trần-cấu, sanh-sản về hậu-thiên
cơ-ngẫu nữa thì chịu trong luật quả-báo luân- hồi.
Thi:
Một lý phân hai thuận
nghịch hành,
Nghịch hành tu luyện
đắc trường sanh,
Vô-Vi Ðại-Ðạo nào ai
thấu!
Thấu đặng về nơi
tử-phủ thành.
Thầy
ban ơn các con. Thầy thăng.
* * *
Chú thích:
Nguyên-Nhân là nguyên
khí chất Tiên-Thiên giáng sanh làm người. Hóa-nhân là từ bực côn-trùng,
thảo-mộc tiến-hóa lên cho đến loài người.
Mồng 9 tháng 8 - Bính-Tý (1936)
KHỞI TRUNG TÂM ÐẠO
Trung Tâm Ðiểm (Trung Tâm Ðạo "Ðại-Thừa")
CAO-ÐÀI
GIÁO-CHỦ, Thầy các con. Thầy mừng các con.
Thi:
Ðạo cơ sanh-hóa tạo
Càn-Khôn,
Ðạo bổn hư-vô
vĩnh-viễn tồn,
Ðạo pháp Tam-Thanh
Tam-Giáo độ,
Ðạo qui tam ngũ luyện
thuần-phong.
Ðạo
là hư-vô chi-khí, phân định âm dương, tạo thành Trời Ðất, rồi nhờ thanh trược
hỗn hiệp, âm dương giao phối mà sanh hóa ra vật-chất muôn loài, lần lần đến
thảo mộc, thú cầm và nhơn loại. Nên cả
thảy đều có cái bổn thể chơn-như chẳng khác gì nhau.
Con
người thọ Tiên-Thiên khí làm linh tánh, rồi giao cảm với Hậu-Thiên âm dương mới
thành hình .
Thân
người có tam-bửu ngũ-hành, đó là do nơi cơ Ðạo sanh hóa trọn đủ, đối với Trời
vậy.
Người
là Tiểu-Thiên-Ðịa đồng đứng vào bực tam-tài, nên cái kiếp đã sanh hóa ra làm
người trong võ-trụ là phải trải qua nhiều lúc khổ nhọc, đớn đau dữ tợn. Vậy
muốn thoát khỏi cõi hồng-trần, ly tứ-khổ thời phải lo bồi công lập đức,
dưỡng-tánh tu-tâm, tầm học chơn-truyền Ðạo-Pháp mới siêu xuất đặng. Lời xưa còn tiên tri rằng : " Mạt hậu Thiên khai Huỳnh-Ðạo". Tiên tri ấy tức là chỉ vào ngày nay Ðạo mở
bùng ra cho chúng-sanh tu hành, có gồm cả tam-thừa cửu-phẩm, cũng do nơi qui
luật Tam-Giáo mà Thầy chế đổi làm một con đường tắt để đưa các con về cựu-vị.
Người
muốn làm Tiên, Phật, hay là các vị Tiên,
Phật đã đại-giác, đại-ngộ, thành Ðạo đều phải tu từ bực tiểu- thừa rồi mới đến
đại-thừa.
Tiểu-thừa
là Nhơn-Ðạo. Người tu theo bực tiểu-thừa
phải chịu dấn thân vào khuôn khổ tôn-giáo.
Tiểu-thừa thì chỉ dạy về hữu hình.
Con người giữ cho tròn theo giới-luật đó tất cũng như mượn con đường hẹp
ấy mà nương chơn đi lần đến con đường rộng lớn minh-mông là đại-thừa vậy.
Người
mới tu, Ðạo hạnh phải giữ cho hoàn toàn trước về Nhơn-Ðạo cho xong, rồi sau bèn
học đến Thiên-Ðạo là tầm cơ siêu thoát ra khỏi thế-giới vật-chất mà đến cõi
thế- giới tinh-thần.
Bực
Ðại-Thừa dạy về vô-hình, nên cần tu tánh luyện mạng, muôn việc có như không
có. Xưa kia KHỔNG-THÁNH cũng đã rõ thông
chí lý về đại-thừa trong lúc HẠNG-THÁC truyền trao, nên sau mới thành đến bực
Ðại-Thành Chí-Thánh. Nhưng phần nhiều
truyền dạy cho đời là chỉ về đường Nhơn-Ðạo, cứ lo rộng mở cho con người biết
luân-thường Ðạo-lý. Còn về tâm-pháp thì
dạy cho có một phần ít trong đệ-tử thôi.
Cho nên đời sau tưởng lầm rằng KHỔNG-THÁNH không hề tu luyện đến
Thiên-Ðạo, chớ kỳ trung sao sao cũng phải rõ thông cơ Tạo-Hóa, hòa hiệp máy âm
dương mà luyện thành kim-đơn thì mới thành Ðạo đặng. Vậy Ðại-Thừa tức là "Ðại-học chi Ðạo,
tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện".
Thiên
Ðạo nay:
NHO-giáo gọi là: chấp trung quán nhứt.
THÍCH-giáo gọi là: bảo trung qui nhứt.
ÐẠO-giáo gọi là: thủ trung đắc nhứt.
Người
tu đến bực Ðại-Thừa đã thọ chơn-truyền bí- pháp rồi thì cần phải phân chia ngày
giờ mà tu luyện cho cái tâm trở nên trong sạch, chẳng bợn hồng trần, phản hồng
vi bạch, mà yên tịnh lặng lẽ để đoạt cơ Tạo-Hóa, vào bộ Tiên-gia, hầu thâu tiếp
cái huyền-khí của Trời đem hiệp với cái nguơn-khí của người mà tạo thành
Tiên-đơn. Vậy nên đây Thầy dạy kỹ các
con tu bực Ðại-Thừa phải cần tầm nơi thanh-khí mà hỗn hiệp âm dương, điều hòa
đủ 8 lượng chơn-dương, 8 lượng chơn-âm làm thành một cân đại-dược tại cung
"LY" rồi điều dưỡng đủ thập ngoạt hoài thai, tam niên nhũ bộ thì cái
chơn-thân mới giao tiếp Tiên- Thiên mà nhập xuất Thiên-môn được; song cũng do
nơi Thầy tùy công đức mà bố hóa cho các con.
Thi:
Luyện-tánh tu-tâm học
Ðạo mầu,
Tam-Thanh Chơn-Pháp
Ðạo tham cầu,
Chơn-thân hiện xuất
thông Thiên-Ðạo,
Thượng tiếp
Tiên-Thiên thoát địa-cầu.
Thầy ban ơn các
con. Thầy thăng.
Ngày 25 tháng 8 - Bính-Tý (1936)
KHUYẾN TU CHO THUẬN
THIÊN-Ý
Thi:
CAO thượng Ðạo truyền
giải nạn eo,
ÐÀI linh trú ngụ lúc
buồn teo,
TIÊN-Thiên diệu-pháp
khai tâm giác,
ÔNG độ người mê khỏi
hiểm-nghèo.
Thầy
mừng các con.
Giờ
nay, Thầy giáng đàn để đôi lời bí-khuyết tâm- truyền cho các con dò xét, tầm tu
cho thuận Thiên-Ðạo, thoát cảnh diêm-phù, tránh khỏi lưới trần-lao nhốt hãm.
Phú:
Cơ
mầu nhiệm của Tạo-Ðoan, ẩn vi có tầm suy mới thấu đáo,
Pháp
tâm-truyền, đường Chơn-Ðạo, phải gia công tham khảo mới tường tri.
Lý
hư-vô cần phải nghĩ suy, vạn pháp nhiệm vô-vi cao thượng.
Kìa
Phật, Thánh, Tiên, phí bao công tìm cho ra chơn- tướng.
Ðoạt
lẽ Trời ảnh-hưởng lý đương nhiên,
Ôi!
là đời chịu: buồn, lo, khổ, nạn, não-phiền,
Mang
nhơn-quả nối chuyền đời này sang kiếp nọ,
Vì
vật-dục đẩy đưa con người vào nẻo khó,
Kiếp
đọa-đày sao dứt bỏ được trái-chủ oan-gia.
Các
con muốn thông-suốt lý tinh-vi thì cần phải sửa tâm cho chính-đính, tập tánh
chí-thiện chí-mỹ cho hiệp lẽ điều-hòa, thuận tùng Chơn-Ðạo.
Trong
cơ mầu-nhiệm của Phật Trời rất nhiều phép lạ, nhưng không bao giờ các con lấy
mắt thịt, trí phàm, tai tục mà dò xét thấu lẽ hư-linh đâu?
Các
con muốn thấu lẽ hư-linh, trước phải định cái tâm, gìn cái ý, nhắm mắt, bít tai
thì có lẽ rõ chút ít.
Trong
pháp-nhiệm, nó ẩn-vi sâu kín cao xa dầu lấy nước biển vẽ-vời cũng không suốt
lý. Thánh trước Hiền xưa ra công tham
khảo, mãn kiếp cùng đời mà vén chưa đặng cái màn bí-mật của Tạo-Hóa đón ngăn. Nhưng cần nhứt là trầm-tư mặc-tưởng,
nhập-định tham-thiền thì gặp Chơn-Tiên khẩu truyền cho rõ Ðạo, chớ sự mầu-nhiệm
tuyệt xảo của Trời, dẫu Phật, Tiên chưa tri nổi.
Các
con ngày hôm nay gặp Ðạo Thầy hoằng-hóa thì cần lập chí luyện phanh, đem cái
bổn tánh hư-linh trở về ngôi vị cũ. Ngày
giờ cuối cùng, Thầy vì thương yêu các con phải giáng phàm mà dìu dắt các con
trở lại, nhưng các con phải hết lòng, đừng ỷ mình, hay là tưởng Thầy thương yêu
rồi biếng nhác. Các con nên biết rằng:
dầu Thầy cũng phải chịu dưới quyền luật của Ðạo thay.
Các
con bị mang xác thịt nặng nề, ngũ-trược chận đè, linh tánh lấp vùi trong đó,
Thầy thương yêu các con là Thầy điểm hóa cho các con. Các con phải vùng-vẫy mà nhẩy ra cho khỏi non
đè núi chận, chớ đừng ngồi đó hoài đặng chờ Thầy bồng ẵm, không đặng đâu các
con!
Ðạo
là phân thanh khử trược. Hễ nhẹ nhàng
trong sạch thì được hiệp nhứt cùng Thầy, còn nặng nề, mê-muội phải chìm xuống
đáy. Vậy các con phải luyện cho đắc tánh
thuần-dương mới ở vào cảnh thiêng-liêng đặng.
Cảnh thiêng-liêng là không khí nhẹ nhàng hơn trăm ngàn lần không khí ở
gần các con. Các con còn nhơ bợn một
chút cũng không thể ở đặng. Thầy nói
sự "di-sơn đảo-hải" là chuyện thường của Tiên, Thánh, nhưng dời
non đổi biển thì dễ, chớ đem các con trở lại thì khó lắm. Non biển tuy nặng nề nhưng không có mang
thất-tình lục-dục, chớ xác phàm con người, tuy nhỏ nhít, mà lẫn cả sự dục-vọng
tà-tâm, nên nặng-nề hơn muôn ngàn hòn núi.
Thầy có thương các con cũng không thể ẵm bồng cho đặng. Vậy các con phải dùng phương pháp tu-tánh
luyện-mạng, khử trược lưu thanh mà thoát ra khỏi luân-hồi lục-đạo.
Trường Thiên:
Ðạo Trời chỉnh-phục linh-căn,
Cầu truyền pháp nhiệm
tầm phăng trở về.
Trần hồng biển khổ sông mê,
Chịu mang xác thịt
nặng-nề muội-si.
Thiên-cơ khép mở nhiều khi,
Hồi tâm kinh nghiệm
vô-vi Ðạo mầu.
Pháp-linh có dễ tầm đâu!
Phật, Tiên chọn lựa
mà trao người hiền.
Thuộc về khẩu-thọ tâm-truyền,
Biết rồi thì cứ chỉ
truyền cho nhau.
Ðạo Thầy không luận thấp cao,
Muốn tu thì đặng nhập
vào cảnh Tiên.
Thấy đời lầm-lạc đảo-điên,
Nên minh Chơn-Lý
Ðạo-huyền thông-linh.
Chẳng dùng sắc-tướng âm-thinh,
Giữ tâm thanh-tịnh
Ðạo minh rõ ràng.
Bí-truyền là pháp minh-quang,
Không bày vẽ đặng
rõ-ràng ở đâu!
Làm cho khó hiểu nhiệm mầu,
Nên chi phải chịu lạc
vào Bàng-Môn.
Ðạo Thầy cốt trọng linh-hồn,
Tin cơ cảm-ứng bảo
tồn vạn-linh.
Thi:
Linh-diệu thần-thông
Ðạo-Pháp truyền,
Truyền lời bí-khuyết
độ nhơn-nguyên,
Nguyên lai bổ thể tu
dương khí,
Khí tụ đơn thành
thượng cửu Thiên.
Thầy
ban ơn các con. Thầy thăng.
No comments:
Post a Comment