Mồng 2 tháng 9, Bính-Tý (1936)
ÐOÀN THỂ
Thi:
CAO ngôi hoằng hóa pháp mầu linh,
ÐÀI Ðạo vô-vi đã phát minh,
TIÊN Phật ra tay dìu dắt lối,
TRƯỞNG thành chơn lý khải Tâm-Kinh.
Thầy mừng các
con nam nữ lưỡng phái. Thầy lấy làm vui
vì cơ quan vận chuyển mà phổ tế quần sanh cải ác tùng lương, tu phong hóa, dựng
cang-thường, chỉnh đốn cho hoàn toàn trở nên đời chí thiện chí mỹ.
Thi:
Ðào luyện đạo-tâm tấn thiện thành,
Ðịnh hồn nhơn loại đắc thời hanh,
Chỉnh tô phong tục đời an trị,
Không khí điều-hòa hấp thụ sanh.
Thi:
Hiệp-hòa nhơn loại khắp xa gần,
Quân-tử liên hòa tỉnh quốc-dân,
Ðoàn hội tương thân nhơn tự trị,
Thể tâm ái hữu phát tinh thần.
Thi Bài:
Tình đồng Ðạo liên hòa đoàn thể,
Nghĩa hiệp quần huynh đệ tương thân,
Dầu xa cũng hóa ra gần,
Chung
tâm đào luyện tinh thần quang minh.
Nòi giống ta giữ gìn nhau mãi,
Khôn chỉ bày, kẻ dại nương theo,
Chia gồng sang gánh hiểm nghèo,
Thương
yêu khắn-khít lựa vèo độ nhơn.
Có một mặt còn hơn mười gói,
Giụm mười cây mới gọi rằng non,
Nghĩa tình nhiệt huyết sắc son,
Ðồng
sanh đồng tử mất còn có nhau.
Hiệp tài đức dồi dào tánh thiện,
Noi Ðạo Trời tân tiến đường tu,
Dầu cho những kẻ đui mù,
Cũng
thương mến cả sớt bù chia lo.
Chung một bọc trong lò sanh hóa,
Anh em gìn mối cả bền lâu,
Ðiểm tô phong hóa đạo mầu,
Mở
mang thế sự rõ câu chơn truyền.
Lẽ loi mãi chịu phiền phức mãi,
Trước sau lo kết dãi đồng tâm,
Nương đò bước thẳng cao thâm,
Chỉ
phương thoát hóa lỗi lầm tránh xa.
Chung vui cuộc điều hòa nhơn loại,
Tùy thế thời hoán cựu, nghinh tân,
Làm cho bình phục quốc dân,
Làm
cho bốn biển tương thân, tương hòa.
Làm cho rõ gần xa hiệp mặt,
Làm cho thành Nam Bắc đừng xa,
Làm cho chung hiệp một nhà,
Làm
cho thế-giới âu ca thái bình.
Lược sơ qua tình hình nhơn loại,
Xa Ðạo Trời tánh lại bạo tàn,
Mối dây thân ái dứt ngang,
Nghĩa
tình máu mủ nhắc càng thêm đau.
Vì danh lợi hại nhau mọi lẽ,
Vì quyền mà tách tẽ nhiều chi,
Vì lòng tham chạ sân si,
Vì
ăn, vì ở, chả vì nghĩa nhơn.
Vì giành-giựt tranh hơn thua mãi,
Mà nghĩa tình mắc phải lao lung,
Anh em chẳng đặng trùng phùng,
Mỗi
người đều sẵn lo dùng túi tham.
Vạch bản ngã tâm phàm vị kỷ,
Nào chút lòng lưu ý thương yêu,
Quá giang sớm phải bắt kiều,
Giống
nòi ta phải thuận chìu bắt tay.
Tình đồng loại một mầu thân thiện,
Ðừng coi nhau như miếng mồi ngon,
Ðồng bào dứt nghĩa sắt son,
Bởi
chưng chia rẽ tiêu mòn ai ôi!
Ðồng chung chịu tô bồi nền cũ,
Dắt dìu nhau thoát khỏi hồng trần,
Làm cho ích quốc lợi dân,
Anh
hùng để hết tinh thần lo chung.
Thi:
Chung cuộc điều-hòa chánh-giáo
hưng,
Muôn dân sẽ thấy sự vui mừng,
Trào lưu xiêu đổ lo bồi đắp,
Xướng dậy liên đoàn lý Ðạo nưng.
* * *
Nưng cao giá trị của người tu,
Tu luyện tánh tâm vẹt ám mù,
Mù mịch khám trần lo nhảy thoát,
Thoát vòng danh lợi mặc ngao du.
* * *
Du nhàn khiển hứng rượu cờ Tiên,
Tiên dược uống vô dứt não phiền,
Phiền trách giận đời không thức lý,
Lý nào quở phạt đứa khùng điên!
* * *
Ðiên đảo Năm Châu nạn chập chồng,
Cuộc đời có đó sắp ngày không,
Không ai biết trước lo tu luyện,
Luyện Ðạo mới mong lánh não nồng.
* * *
Nồng nàn thân ái nghĩa tri âm,
Chén rượu bài thơ khiển hứng ngâm,
Ngâm vịnh thỏa lòng vui Ðạo-đức,
Ðức thuần do bởi đắc minh tâm.
* * *
Tâm KHÔNG khó nhiểm bụi trần ai,
Ai biết thì lo sớm giũa mài,
Mài miệt trần gian mê-muội trí,
Trí cuồng mấy thuở gặp Như-Lai!
* * *
Lai vãng nhiều lần Ðạo phổ thông,
Thông minh mấy kẻ biết cho lòng,
Lòng toan thói quấy không tu luyện,
Luyện tập cơ quan hóa Ðại Ðồng.
Phú Lối Văn:
Cuộc trần thế, ôi! là đời người
mê-muội,
Nẻo chông gai tình tội mà sao cứ lầm
lũi a vào?
Nhủ khuyên
đời thì đã biết bao,
Tánh phàm tục, ôi! nói sao cho hết,
Tình tệ thiệt thấy đời mê mệt, đã đành
cam chịu chết trong biển trầm luân!
Phú Thi
Nguơn hội chót lập thành cơ
Ðạo-đức,
Ðể độ đời thoát vực biển sông mê,
Cuộc tang-thương nay cũng gần kề,
Ðường chánh đại chưa hề ai bước
đến.
Trôi nổi mãi không tầm vào bờ bến,
Sóng gió nhồi đành chịu lấp chôn,
Trong bốn tường hãm chặt trí tâm
hồn,
Nào còn tính khôn khôn dại dại.
Sao là phải, sao là chẳng phải?
Gẫm cuộc đời hiện tại gớm ghê
mà...!
Cái nhơn tình thấy vậy xót xa,
Mang chứng bịnh mê tà ngơ ngẩn trí.
Ðời toan những mưu thần chước quỉ,
Giết lẫn nhau ích kỷ tổn nhơn,
Những hạng người bội nghĩa bạc ơn,
Lòng lang độc thấy căm hờn sôi máu
đỏ.
Nhìn thế sự bắt châu mày nhăn nhó,
Nhắm mắt không muốn ngó đến nhơn
tình,
Ôi! là người chịu nhục chê vinh,
Vinh nhục gẫm sự tình chua chát
lắm.
Bịnh trầm kha lâu ngày đã lậm,
Thuốc tiên hoàn gội tẩm cũng trơ
trơ,
Thấy cuộc đời mà muốn bỏ lơ,
Nhưng không lẽ để vất vơ cho chủng
loại.
Ta cũng ước để lòng mong mỏi,
Hội sau này cứu khổ cuộc chi ly!
Lấy thuốc thần chữa bịnh tham si,
Trừ nọc độc ắc thì thân thể mạnh.
Ban nhập lý chết đà khó tránh,
Nhờ linh đơn Ðạo Thánh giải hồn
oan,
Muốn cho đời thành cuộc trị an,
Thì phải để nhơn gian tiêu diệt
bớt.
Người tội lỗi quả nhồi phải rớt,
Kẻ thiện căn tuy yếu ớt vẫn còn
hoài,
Muốn rõ tàng những cuộc tương lai,
Xem hình thể Ðạo Cao-Ðài tuyên bố
đó.
Phương chi tránh bão bùng sóng gió,
Biển ba đào thiệt khó chống đương,
Ðoán chắc rằng có cuộc tang thương,
Qua hội ấy rõ tường đời Thượng Cổ.
Thi:
Cổ tích xưa kia chép sử xanh,
Công phu khổ hạnh bực tu hành,
Tầm sư học Ðạo bao nhiêu khổ,
Nhưng cũng chìu lòn mới trứ danh.
* * *
Danh hiệu CAO-ÐÀI phái Chiếu-Minh,
Luyện huờn đơn sẽ đắc trường sinh,
Sinh ra chịu những muôn vàn khổ,
Ðến chết không an nổi giựt mình.
* * *
Nhắc lại chuyện xưa bực Thánh
thông,
TRỌNG-NI học Ðạo bái THẦN-ÐỒNG,
HIÊN-VIÊN khó nhọc dày năm tháng,
Mới gặp chơn truyền của Chánh-Tông.
* * *
Tầm Ðạo xưa kia rất khó công,
Muôn vàn khổ hạnh quản bao lòng,
Minh-sư đắc thọ mòn tâm trí,
Nay sẵn bên mình mối Chánh-Tông.
Thầy
ban ơn các con. Thầy thăng.
Ngày 27 tháng 8 - Bính-Tý (1936)
ÐẠO-ÐỨC
Thi:
NGỌC-HOÀNG
THƯỢNG-ÐẾ vận thần thông,
Ðiểm Ðạo
nhơn sanh thoát não nồng,
Mở cuộc Long-Hoa
chiêu Thánh-Ðức,
Hưng truyền
chơn lý phước cao phong.
Thầy đại hỉ,
các con tịnh tâm nghe dạy: Thầy giải về ÐẠO-ÐỨC.
Ðạo-đức phải
đi cặp nhau. Ðạo là dương, Ðức là
âm. Âm dương phải tương cảm, tương ứng,
điều hòa mới thành đặng.
Con người
phải biết đường Thiên-lý, lo tu hành quày bước trở lại chỗ bổn nguyên, nương
pháp Ðạo mà luyện tánh tu tâm, dùng đức cả sửa mình nên hạnh tốt.
Người phải có
Ðạo và người phải làm cho Ðạo rộng lớn thêm ra, chớ Ðạo không thể làm cho người
rộng lớn đặng. (Nhơn năng hoằng Ðạo, Ðạo bất hoằng nhơn).
Ðạo-đức là
cái khuôn-mẫu để cho loài người phải nương đó mà sửa mình đặng mở cái trí hóa
cho thông minh sáng suốt hoàn toàn tánh cách cho đến chí thiện chí mỹ. Chớ con người mà bỏ xa cái Ðạo-đức đi rồi nào
khác chi kẻ bị quáng-làng, cặp nhãn quang mờ tối, có biết đường nào mà đi cho
khỏi sa hầm sỉa hố.
Thi Bài:
Người không Ðạo như hồ không đáy,
Chứa bao nhiêu nó chảy bấy nhiêu,
Người tròn Ðạo-đức xuôi chìu,
Như
thuyền sẵn nước gió xuôi thuận đường.
Ðạo tẩm nhuận chơn dương không khí,
Muôn vật nhờ báu quí hấp nuôi,
Thảnh thơi khỏe khoắn mừng vui,
Trăm
hoa đua nở phất mùi thanh hương.
Làm cho đặng thông thương trên dưới,
Phước đức lành nhuận rưới khắp chung,
Nhờ đây nhơn vật vẫy vùng,
Nhờ
đây mở hoát cửu trùng bước lên.
Người học Ðạo là nền Chơn-lý,
Nhờ sức người lập chí đạt thành,
Luyện tu chiếm địa vị lành,
Ðạo
khai tâm tánh bạch thanh huệ từ.
Người có Ðạo cũng như có ngọc,
Ngọc không trau nên vóc nên hình,
Thì đâu có vẻ đẹp xinh,
Ðức
là trau luyện, Ðạo hình ngọc kia.
Ðạo-đức để xa lìa nhau mãi,
Thì khác gì thuyền lại không sông,
Ðức là nước chảy lưu thông,
Tẩm
nhuần khắp cả non sông gội nhờ.
Người quân tử bao giờ bỏ Ðức!
Ðức làm nên thước mực cho người,
Ðức còn muôn vật tốt tươi,
Ðức
minh, minh đức rán khươi cho đời.
Ðức cao thượng Phật, Trời do đó,
Ðức Thánh Hiền sáng tỏ hơn sao,
Ðức như cây có vỏ bao,
Cây
mà không vỏ cây nào sống lâu?
Ðức tô điểm thanh cao giá phẩm,
Ðức từ hòa nhuận tẩm bốn phương,
Ðức làm người vật yêu thương,
Ðức
ân vô lượng phải tường mới cao.
Ðức âm đức dồi dào minh mẫn,
Ðức lưu hành im ẩm tự-nhiên,
Ðức ưa gần với Thánh Hiền,
Người
làm âm đức là Tiên trong trần.
Âm đức tợ như vầng trăng chói,
Không khoe mình hay giỏi cao sang,
Sửa mình chánh đính hoàn toàn,
Trọng
người như ngọc, như vàng, như châu.
Thi:
Châu trân ngọc báu quí trên đời,
Người thế trọng ưa khắp mọi nơi,
Danh vọng lợi quyền ai cũng muốn,
Người tu sánh tợ món đồ chơi!
* * *
Chơi cho thoả chí đủ mùi đời,
Tửu, khí, sắc, tài các cuộc chơi,
Hưởng hết phước xưa dư lại đó,
Chừng nào mắc họa mới kêu Trời!
* * *
Kêu Trời, Trời biết liệu làm sao?
Họa phước nơi con trước tạo đào,
Phước hưởng chẳng làm gây họa nữa,
Có thương đứng ngó liệu phương nào?
* * *
Nào con có chí luyện đơn hoàn,
Thành tựu rồi sau đặng nghỉ an,
Vượt khỏi sóng trần đương bủa khắp,
Siêng cần Ðạo-đức mới là ngoan.
Thầy ban ơn các con. Thầy thăng.
13 tháng 8, Bính-Tý (1936)
XẢ THÂN GIÚP ÐỜI
Thi:
CAO thanh lạc cảnh toại tâm nhàn,
ÐÀI quí rước người Ðạo-đức an,
TIÊN Phật từ bi ra cứu thế,
ÔNG đem con cả lại Thiên-Ðàng.
Thầy mừng các
con.
Thi:
Ðàng sá quanh co chật hẹp nầy,
Dò lần cho khéo bước truông mây,
Sẩy chơn lọt tuốt hang sâu thẩm,
Níu chéo vượt qua kẻo lạc Thầy.
* * *
Lạc Thầy muôn kiếp chịu lầm than,
Nghiệp quả con gieo phải vướng nàn,
Chuyển kiếp thú người, người đến
thú,
Dễ gì tránh họa nắng mưa chan!
Thầy trông
thấy đoàn con chịu dày dạn cuộc trần ai mãn tháng quanh năm vùi chôn tâm trí
vào vòng danh-lợi đày-đọa mãi, luân-hồi ở trong lò Thiên-Quân sanh hóa. Thầy bao nở ngồi an hưởng chốn thanh nhàn,
nên phải lâm phàm mà tế độ các con, dùng cơ pháp khai Chánh-Ðạo, mở nẻo
Thiên-Ðàng cho chúng-sanh qui hồi cựu cảnh.
Giờ hôm nay,
Thầy đến đây rồi, là ngày giờ hạnh phúc chung cho nhơn loại. Thầy muốn cứu vớt các con thoát khỏi chốn
hồng-trần biển khổ, dứt dây quả báo luân hồi; mà Thầy dùng phương pháp chi để
cứu độ các con?
Trong đám
con, phần đông chưa rõ thông lý Ðạo, tưởng Thầy dùng cơ giáo hóa là đủ, nào ngờ
phải có một cái Pháp mầu nhiệm bí-truyền, để khẩu khuyết cho con nào chán đời
tầm Ðạo. Nhờ cái pháp tâm-truyền ấy mới
cổi xác phi thăng, vượt ra ngoài vòng tứ khổ, các con nào thấu đáo.
Thi:
Tam-Giáo xưa nay một phép truyền,
Ðộ người thành Ðạo đắc Thần, Tiên,
Ngày nay Thầy đến hưng Chơn-Giáo,
Thống nhứt Tam-Thanh chuyển
diệu-huyền.
Các con hầu
đàn phải tịnh tâm, Thầy mới dạy đặng.
Thi Bài:
Chuông tỉnh thế rền vang thúc hối,
Ðuốc huệ soi dẫn lối thoát trần,
Giúp đời nhơn vật xả thân,
Lập
công đền tội gở lần oan khiên.
Như thảo mộc chẳng riêng lợi ích,
Hiến thân sanh chẳng thích an nhàn,
Cỏ hoa nuôi sống thế gian,
Muôn
loài nhờ đó được an ổn hoài.
Muốn giúp đời đừng nài khó nhọc,
Khổ bao nhiêu cũng lóc-lăn theo,
Phải cơn sống chết hiểm nghèo,
Non
cao biển thẩm rán trèo vượt qua.
Thú xả thân thiệt là khổ hạnh,
Chịu nắng mưa nóng lạnh vì đời,
Nhọc nhằn tâm chí chẳng lơi,
Miễn
sao giúp ích cho người đặng thôi.
Loài súc vật làm tôi cho chủ,
Rất trung cang vẹn đủ nghĩa tình,
Ðói no nào quảng phận mình,
Một
niềm với chúa hy sanh trọn bề.
Thân trâu ngựa não nề đau khổ,
Chịu lao đao xấu hổ chẳng cần,
Làm thì trải hết tấm thân,
Ðói
ăn cỏ ruộng không cần sắm mua.
Sự tốn hao chủ chưa nhọc sức,
Ở không tiền mà nhứt tâm trung,
Ðòn roi chịu đánh thịt rùn,
Cái
thân trâu ngựa não nùng biết bao.
Khi già yếu lạnh nhào đau chết,
Khí lực rày yếu hết tứ chi,
Làm nhiều thân thể suy vi,
Ðã
vầy người thế chẳng gì xót thương.
Ðời bao nỡ toan phương độc địa,
Xẻ banh gia cắt rĩa phân thây,
Chặt bầm trăm đoạn như vầy,
Có
công giúp ích mà nay khổ hình.
Người sao chẳng niệm tình Tạo-Hóa,
Nỡ lòng nào đoạn sả ăn chơi,
Vui chi những sự lạ đời,
Ăn
sao ngon miệng nuốt thời sao vô.
Như loài khuyển giữ đồ cho chủ,
Suốt ngày đêm chẳng ngủ coi nhà,
Có ai lòng dạ gian tà,
Làm
hung đánh tiếng chủ nhà dậy ra.
Như con chó biết mà trung tín,
Ðứng làm người gian nịnh nên không?
Chó còn chung thỉ một lòng,
Người
đâu nỡ dạ bưởi bòng sai ngoa.
Nhỏ hơn hết người ta nhờ cậy,
Sức con tầm công ấy biết bao,
Kéo tơ lộn kén làm sao,
Cho
nên tơ chỉ tiếc nào cái thân.
Chịu khổ sở trăm phần hóa kiếp,
Ích lợi chung sẵn dịp lo làm,
Sống đời thôi đã hết ham,
Muốn
nên công cán hóa làm nhộng sâu.
Muốn ích chúng nhào đầu chịu chết,
Ôi! Chán đời mê mệt lắm đa!
Hy-sinh thú vật kia là,
Người
linh hơn hết liệu ra lẽ nào ?
Thú xả-thân biết bao lao-lực,
Người giúp đời chỉ thực lao-tâm,
Giữ mình đừng tánh lỗi-lầm,
Sau
ra độ chúng đọa trầm biển sâu.
Người xả thân mưu cầu lợi chúng,
Làm ích chung quốc-chủng an hòa,
Giống nòi ta thể một Cha,
Thú
cầm nhơn-loại cũng bà con chung.
Người tâm chí vẫy vùng cơ hội,
Ðem Ðạo mầu dẫn lối chúng-sanh,
Dạy đời dữ hóa nên lành,
Mở
mang trí óc lập thành quốc gia.
Gieo tư tưởng cọng hòa toàn thể,
Chỉ phương tu đoạt huệ thành Tiên,
Mỗi người có một tánh hiền,
Ắt
là nước trị, nhà yên thái bình.
Thi:
Bình tâm thủ đắc lấy cơ quan,
Huấn luyện hồn dân được mở mang,
Nước trị nhà yên hòa hiệp nhứt,
Mạnh giàu Ðạo-đức hưởng thanh nhàn.
Thầy ban ơn
các con. Thầy thăng.
Mồng 4 tháng 9, Bính-Tý (1936)
HAI MỐI ÐẠI-ÂN
Thi:
CAO cả Càn-Khôn nắm chủ quyền,
ÐÀI sen đở gót tạo khai Thiên,
GIÁO minh nguồn cội lo quày lại,
CHUۍ ý tu hành tác Phật, Tiên.
Thầy mừng các
con.
Thi:
Trên cây Thập-Tự suốt mồ hôi,
Ðổ máu vì thương tội lỗi đời,
Chịu hết cứu chung cho vạn loại,
Bao nài khổ nhọc, các con ôi!
Ðây Thầy giải
sơ qua cho các con rõ Ðạo.
Cái phương
châm cứu thế phải lấy Ðạo-đức, nghĩa nhơn, lễ trí làm qui củ chuẩn thằng, huấn
luyện người đời cho rõ tường chơn lý cao siêu, hồi tỉnh lo sùng tu tánh mạng.
Dạy người
trước phải chánh tâm, tu thân, rồi tề gia, trị quốc. Ai đã mang mảnh hình hài thì phải biết đội ơn
hai đấng:
Một là Trời
là đấng thanh-cao phú cho loài người một cái tánh thiện lương.
Hai là Cha Mẹ
vì người thọ bẩm tinh cha, huyết mẹ, mà tạo ra một cái hình hài xác thịt.
Ðiểm linh
tánh Trời ban cho mỗi người là cái lý tuyệt diệu cao siêu, nhập vào mảnh thân
phàm là "hồn hiệp xác". Người
nhờ cái bổn-tánh ấy mà biết khôn-ngoan, phân biệt điều lành, lẽ ác, biết phải
biết quấy, biết lo buồn. Tóm lại là mọi
sự thế gian đều rõ biết.
Nhưng loài
người cả ham mê mùi tục lụy mà chôn dập điểm linh-hồn, gây tội lỗi chập-chồng
như non cao núi cả. Các con ngày hôm nay
bị cái chứng bịnh rất nặng nề, nó ăn ruồng trong gân cốt. Các con không lo tìm phương cứu chữa thì ắt
sự chết một bên. Vã lại cái tật bịnh
loài người quá ư trầm trệ, nó hóa sâu dòi trong cốt tủy. Sâu dòi đó, cứ ngày đêm rút rỉa, đụt trong
gan, ruột, phổi, phèo, khí huyết khô khan, tiêu mòn sức lực. Mà sẵn gặp BIỂN-THƯỚC Thần-Y lương phương
diệu dược, ra tay tế độ, khám căn bịnh mạch lạc lẽ nào, có thể rõ căn bịnh mà
cứu chữa đặng. Ngày giờ hôm nay, những
bịnh nhơn ấy nghe nói thì mừng vui, nhưng không đặng sốt sắng, cứ dần dà
mãi. Bịnh ngặt nghèo mới chịu đem lại
cầu cứu Thần-Y BIỂN-THƯỚC cũng vô phương, chỉ làm ông tòa lên án chứng chắc
ngày giờ phải chết đó thôi ..... Cười. ... Ôi! cái bịnh truyền nhiễm chung cho
cả hoàn-cầu mắc phải, thảm than đau đớn, bịnh ấy đôi ngày sau đã yên giấc ngàn
thu, ai lại không buồn lo ghê sợ mắc phải.
Về bịnh xác
thịt thì còn dễ trị, chớ tật bịnh tinh thần lấy làm ghê gớm tràn đầy tội lỗi,
độc ác dẩy đầy khắp mọi nơi. Thầy là
Thần-Y BIỂN-THƯỚC ngày nay đến cứu chữa cái bịnh hiểm nghèo của các con. Các con không chịu uống thuốc mà giải trừ thì
ắt chờ ngày chết. Ngày chết của các con
là "ngày các con sẽ gặp Thầy một lần nữa". Các con phải quì trước tòa phán xét mà khai
tội lỗi của các con đã gây ra hồi còn mang xác thịt. Chừng đó các con có cầu khẩn Thầy cứu các con
cũng không thể được, các con khá hiểu ý!
Con nào còn xót lại đôi chút thiện lương, nhớ đến căn kiếp mình thì lo
lập chí tu hành, cầu truyền Ðạo-đức, phanh-luyện tinh thần, ấy là những con
biết trọng và nuôi nấng phần hồn, trau tria hoàn toàn chí thiện, chí linh, chí
bửu.
Về phần xác
thịt thì các con nuôi nó bằng vật thực, như các loại ngũ cốc, cùng những món
cao lương mỹ vị cho nó có sức lực và khí phách để hoạt động theo ý muốn của các
con. Còn về phần hồn, các con biết tu thì cũng phải dụng huyền công của
Ðạo-Pháp để vận chuyển âm dương, lược lọc tinh ba để bồi bổ cho nó đặng tinh vi
hiển đạt. Ấy đó giờ khắc công phu của
các con là phương pháp để un đúc, trau-tria cho phần linh-hồn trở nên nhẹ
nhàng, sáng suốt, anh linh, hiển hích.
Vã lại nếu các con mà nhịn ăn lâu ngày thì phần xác thịt phải ốm gầy,
tiều-tụy, sức lực yếu-đuối, suy-vi, còn như các con bỏ tu thì phần linh hồn trở
nên mờ ám, nặng nề, khả giáng bất khả thăng, thì không phương siêu xuất
tam-giới đặng.
Thầy thăng.
Ngày 26 tháng 8, Bính-Tý (1936)
TỈNH THẾ
Thi:
CAO đức thấm nhuần khắp tứ châu,
ÐÀI sen thọ hưởng quả linh mầu,
GIÁO dân tỉnh ngộ đường Chơn-Ðạo,
CHỦ định chiêu chương Thánh-Ðạo
thâu.
Thầy mừng các
con.
Phú:
Nguồn Ðạo-đức thâm vi nhiệm lý,
Bổn chơn truyền lập chí tìm ra,
Máy dinh hư chẳng có bao xa,
Nguồn tận diệt bày ra trước mắt.
Cuộc xáo lộn Ðông, Tây, Nam, Bắc,
Nạn chiến tranh đạo-tặc dẫy tràn,
Ôi! muôn nhà trăm họ lầm than,
Chịu khốn khổ tai nàn thảm thiết.
Ðạo ra đời là đời tận diệt,
Nên Phật, Tiên cho biết mà tu,
Người thế thường chác những
hèn-ngu,
Cấm cổ chết trong ngục tù tội lỗi.
Khuyên nhủ mãi sao đời không tự
hối,
Mảng vui say hụp lội biển mê,
Cuộc hành tàng dòm thấy bắt gớm
ghê!
Người kêu réo mãi không hề đếm xỉa.
Tai Trời đến mới kinh hồn mất vía,
Nhớ lại Thầy, Thầy đã đi đâu!
Quyết lấp xô biển khổ thành sầu,
Nhưng phải chịu bể dâu trong một
thuở.
Trường Thiên:
Gióng
chuông Thánh Ðức truy hồn,
Ðạo hưng cứu thế bảo tồn vạn linh.
Cuộc
đời đáng thị đáng khinh,
Ðáng chê đáng bỏ, chôn mình làm
chi?
Ðời
đáng ghét, đời đáng khi,
Ðáng xa cho rảnh, đáng ly cho rồi.
Ðời
người là vũng tanh hôi,
Là ao nhơ bẩn, là mồi quỉ câu.
Mắt
phàm trông thấy sắc mầu,
Dục lòng tham chạ, cắm đầu
chết nguy.
Trông
ra nhơn loại thời suy,
Toan bề đâm chém chẳng vì thương
yêu.
Làm
cho cột ngã thành xiêu,
Nhà hư nước loạn tiêu điều thế
gian.
Nhìn
đời đổ lụy chứa chan,
Xót thương cho nỗi mấy đoàn con
ngu.
Chịu
trong khám tối mây mù,
Sa chơn vào chỗ lao tù ngàn năm.
Thầy
nhìn phát động thương tâm,
Ðến đây chỉ chỗ sai lầm của con.
Gây
thành tội chất bằng non,
Trả cho tiêu hủy thì còn chi thân!
Mê
đời chung chịu khổ thân,
Ðạo-tâm u-ám tinh-thần muội-mê.
Thầy thấy bầy
con ở thế-gian, vì miếng ăn đất ở, vì danh vọng mà các con cắn xé nhau, chia rẻ
nhau, nào khác chi rắn chung hầm, vì đói mà cắn giết nhau, nuốt ăn nhau, đâu
biết suy xa nghĩ tột.
Ôi! các con
đồng mắc phải tội tình, chịu cái nạn chung trong ao sầu, vũng khổ, mà các con
không tầm đường tẩu thoát, lo cứu vớt cho nhau, lại toan bề sát hại lẫn
nhau. Khờ lắm thay! Dại lắm thay!
Cái cuộc đời
là sông mê bễ khổ, con người chỉ bị ham muốn mà linh-hồn hãm chặt vào chỗ nguy
nàn. Phải biết thế gian là cuộc bày trò
gạt chúng, toàn là giả-mộng phù-vân. Bởi
vậy cho nên thất-tình, lục-dục nó luống mê sa mồi lợi-lộc, bã vinh-hoa mà chôn
chặt con người trong bốn tường: sắc, tài, tửu, khí. Thiệt đời là khổ, muôn việc chi cũng khổ, con
người vì ham đem trí não vào cuộc vui thích của tình đời mới chịu buồn, lo,
sầu, thảm, não-nuột, đớn-đau.
Mở mắt chào
đời, người đà thấy khổ. Ôi! từ sanh chí
tử, biết bao nhiêu là nạn nọ tai kia, đến khi lưng mõi gối dùn lại bịnh tật
phát sanh, chồng chập muôn vàn sự khổ.
Nhưng thế
gian dẫu là chí khổ, mà khổ ấy lại cần phải có, vì có khổ, thế gian mới trở nên
một trường thi tấn-hóa cho nhân loại.
Tuy nhiên,
Thầy nay hỏi thử các con: Có thiệt tại
đời là khổ, hay tại ở các con tạo gây lấy khổ cho mình?
Các con hãy
xét, đời đâu có khổ, chỉ tại các con chác khổ mà thôi. Bao nhiêu sự ham muốn, đắm mê, lầm lạc là bao
nhiêu con đường mở rộng để rước ngay cái khổ vào mình. Không ham muốn, đắm mê, lầm lạc, làm sao có
oan khiên, quả báo, luân-hồi. Hễ ham
vinh hoa phú quí thì chịu tâm khổ, thân lao; mà muốn vợ đẹp con khôn lại bị thê
thằng tử phược. Cứ mảng say mê trong
trường mộng ảo, miệt mài theo bốn vách, chìu lụy với bảy tình, mà theo đuổi
muôn vàn điều ưa thích muốn ham, thế mới gây nên những cái thảm họa tàn khốc
cho thây nằm chật đất, máu chảy thành sông, thì biểu sao luân-thường không
bại-hoại, Ðạo-đức chẳng suy đồi.
Ôi! đời đã
đến thế thì đời chỉ là một trường tranh đấu kịch liệt, một cuộc tàn sát gớm
ghê, nạn khổ dẫy đầy, đao binh chất ngất, đạo tặc lung tung cho đến đổi cùng
chung một bọc, cùng chung một nòi, mà cũng tương tàn, tương sát lẫn nhau cho
vừa lòng dục, thì còn chi phong tục, kỷ cương, tình nghĩa!
Ðời đã đến
thế thì dầu ai trí cả tài cao bực nào cũng đành thúc thủ vô sách, chớ có thế gì
khiển nỗi nhơn-tâm, dường ấy là đời sắp tận vong tiêu diệt đó.
Nhưng tuy vậy
mặc lòng, nếu hôm nay đời lại biết lấy nền Ðạo-đức làm trung tâm cho mối
chuẩn-thằng qui-củ, thì sự tình tệ cũng dần dần ngày một thối lui mà nhượng
bước cho sự thiện-lương thuần-mỹ.
Phải nhờ
Ðạo-đức mới huấn luyện hồn dân, chế kềm tâm chúng mà dìu-dắt trở lại con đường
nghĩa-nhơn hạnh phúc.
Con người
phải hiểu biết cho phân minh rành rẽ, luật báo ứng nhơn quả, thì mới chịu hồi
tâm cải ác tùng lương mà tu phong hóa, chỉnh luân thường, để làm cái giới hạn
cho nhơn sanh. Ðược vậy đời mới lần lần
nhiễm lấy Ðạo-đức-tinh thần mà ưa làm phải làm lành, biết tránh tai, tránh
họa. Lâu lâu con người lại thông suốt
đến cả căn cơ Ðạo-đức mà tầm ra nguồn cội của chúng-sanh.
Ðã tầm ra
nguồn cội ấy thì nhơn loại sẽ bắt đầu thương yêu nhau trở lại, vì sẽ rõ biết
tất cả chúng-sanh ở thế gian nầy dầu thảo mộc, thú cầm hay nhơn loại chi cũng
cùng chung một lò sanh hóa, cùng chung một khối tinh thần; dường ấy lớn là anh,
nhỏ là em, thì lòng bác ái mới mở rộng ra, mà không bao giờ còn loài nào muốn
ăn thịt, nhai xương, nút máu loài nào nữa hết.
Con người chừng ấy sẽ trở nên chí thiện mà không bao giờ còn những thói
nhỏ-nhen, hèn-mạt như tham-lam, ganh-gỗ, oán-chạ, thù-vơ, ghen-hiền, ghét-ngõ,
vân vân. Chừng đó là đời đã thái-bình,
dựng nghiệp Thuấn Nghiêu, phong võ điều hòa, bốn phương cọng lạc. Ấy có phải là nhờ nơi Ðạo-đức mà un đúc lòng
người đó chăng?
Ôi! Báu trọng
thay cái Ðạo! quí hóa thay cái Ðạo! mà thế gian còn chưa hiểu rõ. Vã như một người biết Ðạo, mười người biết
Ðạo, trăm ngàn người biết Ðạo, cả gia đình quốc gia biết Ðạo, khắp xã hội hoàn
cầu biết Ðạo, thì còn ai đâu mà sanh lòng quấy-quá? Có phải là sẽ khỏi thất công cho chánh-trị
giữ gìn chăng?
Ôi! đời đã
lập hình-pháp rất nghiêm, dùng khí-giới rất nhiều, mà thử xem: đời độc ác, chẳng những cũng vẫn huờn độc ác
mà còn càng thêm độc ác mỗi ngày gia-tăng lên mãi nữa kìa!
Chỉ có chừng
nào nhơn loại biết sợ cơ Trời báo ứng, biết ham Ðạo-đức tinh-thần thì dẫu một
cái tội chi thầm tối, một cái ác chi bí-mật là cũng chẳng bao giờ ai dám làm
đâu? Vì thầm tối bí mật với ai, chớ với
thần lương tâm, với cơ báo ứng mà còn kín nhẹm nỗi gì?
Thế nên không
chi ích-lợi cần yếu cho đời bằng Ðạo với Ðức.
Hễ Ðạo-đức hoằng khai, đời đã thâm nhiễm thì con người mới hết dục-vọng,
mà hết dục-vọng là hết tàn ác, hết tàn-ác là hết khổ-đau. Vậy nên các con phải chung tay hiệp sức mà
rán lo sao cho bành trướng Ðại-Ðạo, để độ rỗi quần sanh trong thời mạt kiếp này.
Vã đời thường
có trị có loạn, mà loạn hễ cùng là tất phải trị. Ðạo cũng có thạnh có suy, mà suy đã cùng thì
rồi lại thạnh. Sự thành bại, hưng vong
ấy cũng bất ngoại là cơ Ðạo chuyển.
Thầy ban ơn
các con. Thầy thăng.
No comments:
Post a Comment