2 tháng 8, Bính-Tý (1936)
ÐẠI-ÐẠO LUẬN
Thi:
NHỨT khí hư
vô tác tạo thành,
BỬU mầu Ðạo
hóa trược phân thanh,
CHƠN linh
đắc ngộ tâm minh huệ,
NHƠN trí
thức tu pháp nhiệm hành.
Ngã chào chư
đạo-tâm nam nữ lưỡng phái.
Giờ nay ngã
lai đàn là vì mạng lịnh Bề-Trên sai khiến, đến báo tin chư hiền thành tâm,
nghinh Thánh-Giá CHÍ-TÔN ngự lâm giáo Ðạo. Ngã chào, ngã lui.
*
* *
Huyền-Khung-Cao
Thượng-Ðế Ngọc-Hoàng Ðại Thiên-Tôn tá danh Cao-Ðài Tiên-Ông Ðại-Bồ-Tát Ma
Ha-Tát.
Thầy
các con. Thầy mừng các con.
Thi:
NGỌC sắc gia ban quyển Ðại-Thừa,
HOÀNG thành
Ðạo tỉnh giấc mây mưa,
THƯỢNG căn
đắc ngộ tu tâm tánh,
ÐẾ vị hồi
nguyên chí mới vừa.
Giờ nay, Thầy
lâm phàm bưng chén thuốc phá mê để cứu đoàn con đang luống ngây ngô trong trần
ai khổ hải. Các con khá biết rằng Thầy
là một đấng toàn tri toàn năng, thống chưởng quyền hành, hồng oai hồng thiện,
chẳng phải không đủ quyền lực thiêng-liêng mà thưởng phạt các con, nhưng vì
lòng từ bi, Thầy quá yêu thương các con, phải lăn lóc cùng các con mà độ rỗi
các con thoát khỏi chốn mê đồ.
Thi:
ÐẠI-Ðạo chấn hưng phổ hóa thành,
THỪA cơ vận
chuyển độ nhơn sanh,
CHƠN truyền
hoằng hóa vi Tiên Phật,
GIÁO dục
quần linh thuận mạng hành.
Ðạo
là gì?
Ðạo là hư vô
chi khí, Ðạo rất mầu nhiệm, sâu kín cao siêu.
Trước khi chưa có Trời Ðất đã có Ðạo.
Vậy Ðạo đã tạo dựng nên Càn-Khôn Võ Trụ, hóa sanh vạn vật muôn loài. Muôn loài vạn vật phải thọ bẫm khí hư vô mà
sanh hóa mãi.
Ðạo
ấy ai làm chủ?
HỒNG-QUÂN
LÃO-TỔ làm chủ nó, vì đã chuyển pháp-luân mà sáng tạo muôn loài. Ðạo sanh Trời Ðất, Trời Ðất cũng phải dưới
quyền hành của lẽ Ðạo. Ðạo không bao giờ
hư hoại được, bền vững hoài. Các con
không nên giờ khắc nào xa nó, còn nó thì sống, xa nó thì chết. Các con nghe:
Trường Thiên
Ðạo mầu sản tạo Càn-Khôn,
Hư vô chi
khí Chí-Tôn chưởng quyền.
Hóa sanh Phật, Thánh, Thần, Tiên,
Muôn loài
vạn vật lưu truyền thỉ chung.
Ðạo vô tận, Ðạo vô cùng,
Ðạo là mẹ
đẻ khắp chung muôn loài.
Ðạo phân ngôi thứ Tam Tài,
Ðạo châu vi
độ trần ai vững vàng.
Ðạo còn, người, vật bền an,
Ðạo lìa,
một khắc tiêu tan xác hồn.
Ðạo truyền dại trở nên khôn,
Ðạo ra cốt
yếu bảo tồn chúng-sanh.
Ðạo CAO nay đã lập thành,
Ðạo khai
pháp luật ban hành thế gian.
Ðạo minh minh đức tăng quang,
Ðạo huyền
thống nhứt hành tàng Thiên-cơ.
Ðạo nay phản bổn huờn sơ,
Ðạo phân
định trước ngày giờ qui nguyên.
Ðạo làm người hóa Thánh, Tiên,
Ðạo ban
huấn luyện đời hiền hậu lai.
Ðạo mầu luân chuyển hoát khai,
Vận hành
nhựt nguyệt trở day ngũ hành.
Ðạo Huỳnh tế độ chúng-sanh,
Ðạo là
Thiên-lý lưu hành ngày đêm.
Ðạo không giảm bớt tăng thêm,
Ðạo là lặng
lẽ khép kềm vạn linh.
Ðạo Trời vô ảnh, vô hình,
Vô-vi, vô
xú, vô thinh, vô trần.
Ðạo Trời chẳng ngoại nhơn thân,
Ðạo khi
trồi sụt, xa gần lại qua.
Ðạo không xen chánh lẫn tà,
Ðạo không
non nớt, yếu già, mau lâu.
Ðạo trung cơ bí nhiệm mầu,
Ðạo "Không
Không" ấy quày đầu về nguyên.
Ðạo nuôi nấng giữ mối giềng,
Ðạo hưng
tâm-pháp bí-truyền luyện phanh.
Ðạo dạy bỏ dữ theo lành,
Ðạo phân
thứ lớp đành rành tinh hoa.
Ðạo phân một, một, hai, ba,
Là ngôi Thái-Cực
Chúa-Cha chưởng quyền.
Âm dương hiệp với ngôi Thiên,
Hóa sanh
vạn vật mối giềng chẳng xao.
Một hai ba ấy lẽ nào?
Cho đi khắp
chỗ cũng vào một ngôi.
Ðạo Thầy con chớ buông trôi,
Ðạo qui
nhứt thống phục hồi linh-căn.
Ðạo Thầy là ngọn bửu đăng,
Ðạo soi
sáng khắp như trăng đêm rằm.
Ðạo thường ẩn núp nơi tâm,
Ðạo đâu non
núi mà tầm nhọc công.
Ðạo Trời, người muốn rõ thông,
Ðạo diệt
nhơn dục, tâm không tỏ tường.
Ðạo Thầy phưởng phất mùi hương,
Mà không
thấy rõ nẻo đường nào ra.
Người xa Ðạo, Ðạo không xa,
Muốn tri
Ðại Ðạo, lòng tà đừng mang.
Thi
Mang kiếp trần ai chịu não nồng,
Nỗi vì quả
nghiệp mảng long đong,
Tùy cơ
Tạo-Hóa đền oan nghiệt,
Muốn thoát
luân-hồi học chữ "Không".
Các con thành
tâm nghinh THÁI-THƯỢNG giải tiếp về chữ Ðạo.
Thầy ban ơn các con. Thăng.
TẠI SAO CƠ ÐẠO RẼ CHIA?
Thi:
THÁI hòa sản xuất Thánh, Thần, Tiên,
THƯỢNG hạ
chung lo nắm mối giềng,
ÐẠO rẽ chia
ba Trời định trước,
TỔ quyền
giáo dục chỉnh qui quyên.
Thầy mừng
trong hàng đệ-tử
Thi Bài:
Cơ Ðạo chuyển Pháp linh ứng hóa,
Ðộ quần sanh
tất cả an nhàn,
Ðời còn tai
biến thảm than,
Người người ưa chuộng theo đàng hư danh.
Bỏ Ðạo-Ðức
tu-hành luyện tập,
Toan lẫn nhau
bẫy rập hại đời,
Ðộng lòng
ngôi cả Chúa-Trời,
Thương đoàn con dại cãi lời nhũ khuyên.
Phế Ngọc-Kinh
giáng miền trần thế,
Ðem Ðạo mầu
phổ tế chúng-sanh,
Dạy cho thấu
đáo cội nhành,
Phục hưng Tam-Giáo ban hành lý công.
Nho, Thích,
Ðạo Tam-Tông chưởng Ðạo,
Ðoạt Thiên-cơ
lập giáo trần ai,
Dùng phương
cơ nhiệm hoằng khai,
Lâu năm tâm-pháp đổi thay thất truyền.
Pháp Như Lai,
cửa Thiền chế cãi,
Dùng hữu hình
cho sái Phật-Tông,
Thinh âm sắc
tướng tràn đồng,
Làm cho xa mất chữ Không đâu rồi!
Ðạo Tiên-Giáo
phục hồi tánh mạng,
Chế ngũ hành
tỏ rạng tam nguơn,
Tâm thanh
tịnh, luyện linh đơn,
Lưu hành Thiên-lý phục huờn nhơn-tâm.
Ðạo thâm viễn
người tầm chẳng thấu,
Nên càng ngày
ẩn giấu nơi trong,
Về sau hậu
học bất thông,
Ðem ra họa vẽ cua còng lôi thôi.
Nền
Khổng-Giáo buông trôi ngàn dậm,
Chúng hậu-nho
chác lắm điều hư,
Ôm gìn hạ học
khư khư,
Chuộng phần thi cử lợi tư cho mình.
Nên Tam-Giáo
phát minh một lúc,
Truyền tinh
thần un đúc quốc dân,
Ðời sau ưa
thích chuyện gần,
Lưu thông sấp xuống lần lần thất danh.
Nay CHÍ-TÔN
lập thành Ðại-Ðạo,
Hiệu CAO-ÐÀI
phục đáo linh-căn,
Trời hôm nhờ
ngọn huệ đăng,
Dắt dìu sanh chúng tầm phăng mối giềng.
Nhưng Ðại-Ðạo
tách riêng nhiều phái,
Ðể tùy nhơn
không phải thất truyền,
Ðạo chia tiền
hậu nhị thiên,
Về khoa Siêu-Thoát, tâm-truyền cơ quan.
Lánh tục thế
tầm đàng Ðạo-Ðức,
Xa tình đời
hiệp nhứt bổn nguyên,
Ngày đêm
luyện Ðạo, tham thiền,
Là Cơ Xuất-Thế Tiên-Thiên phục hồi.
Cơ Nhập-Thế
trau giồi hạnh đức,
Giữ Tam Cang,
tâm nhứt, ngũ thường,
Thuận tùng
luật chánh làm đường,
Công truyền giáo hóa là phương giúp đời.
Thi:
Ðời Ðạo nên lo nối bước theo,
Ðời không
Ðạo-đức chịu mang nghèo,
Ðạo đời
tương ứng thành an trị,
Ðời Ðạo
thấp cao cũng rán trèo.
Thầy ban ơn
các con. Thầy thăng.
NỀN TẢNG CAO-ÐÀI ÐẠI-ÐẠO
Thi:
GIÁC đạo thông thường lý chánh chơn,
MINH tâm
dưỡng tánh luyện kim đơn,
KIM thân
đắc ngộ siêu tam giới,
TIÊN Phật
chứng thành gội đức ơn.
Chào chư hiền
nam nữ kim đàn. Ngã giờ hôm nay, vì đắc
lịnh CHÍ-TÔN đến bày tỏ đôi lời Ðạo-Ðức.
Vậy chư hiền thành tâm tịnh đàn, nghe tiếp.
Trường Thiên:
Ðạo
đời hai nẻo lại qua,
Người tu
khuyên khá tìm ra cội nguồn.
Trần ai ngây ngất khói un,
Nhơn tình
chôn đắm vào khuôn khổ đời.
Kìa là vật đổi sao dời,
Non mòn
biển cạn cơ Trời biến thay.
Họa chung chịu những đắng cay,
Biết phương
thoát khỏi trần ai não nùng.
Ðời người sao khỏi kiết hung,
Nương thoàn
Ðạo-đức vẫy vùng thoát mê.
Thi:
Mê đắm tình đời luống khổ tâm,
Muôn thu
chịu mãi bước sai lầm,
Xa đường
Thiên-Ðạo không trông thoát,
Nhơn dục
cháy bừng đốt trí tâm.
Tâm phàm tử, Ðạo-đức sanh,
Làm cho trí
huệ hiệp thành Phật, Tiên.
Nương thoàn thẳng tới Ðào Nguyên,
Là nơi an
lạc niên niên hưởng nhàn.
Phú:
Bần-Ðạo dòm
thấy cuộc đời người biết bao nhiêu hạng mê say vì tửu khí sắc tài,
Mà đành chôn
hết cả thân mình vào trong gió bụi,
Kiếp người
ngắn ngủi, thoạt mất thoạt còn,
Luyến hồng
trần làm mờ ám trí huệ sắc son.
Sa mùi tục
tiêu mòn tinh thần Ðạo-đức,
Ai là người
trí thức, ai là kẻ hiền nhân,
Trải mắt xem
thời cuộc quốc dân thì rõ biết luân thường đà bại hoại.
Lửa tham dục
lừng lên cháy mãi,
Sóng ái tình
bủa khắp chỗ, làm phá hoại nền phong hóa suy tồi.
Khói độc bay
khắp chỗ, nhơn vật đồng mê mẫn lúc tỉnh hồi say.
Ôi ! là khổ
mà mấy ai dòm ngó kỹ!
Thi:
Ngó kỹ mà coi khổ quá chừng,
Sóng tình
cuồn cuộn sớm dời chưn,
Nhảy ra cho
khỏi vòng nô lệ,
Dụt tắt lửa
lòng Ðạo-đức hưng.
Thi Bài:
Ðuốc chơn lý khêu đà sáng tỏ,
Ðạo-đức
truyền đời rõ căn nguyên,
Hồi đầu thọ
pháp tâm-truyền,
Lo trau luyện tánh, Phật, Tiên đắc thành.
Xa nẻo Ðạo
tánh lành mờ ám,
Khối tinh
thần suy giảm muội mê,
Cả mang tham
dục nặng nề,
Thê thằng tử phược khó bề thoát thân.
Chôn trí huệ
trong trần đày đọa,
Bỏ thiện căn
tai họa chập chồng,
Cuộc đời có
hóa ra không,
Bỡi chưng cá chậu chim lồng khổ thay!
Ðời loạn lạc
miệt mài tâm trí,
Ðạo suy tồi
ma quỉ hừng lên,
Phá hư giáo
lý móng nền,
Muôn nhà trăm họ tiếng rền thở than.
Nay Ðạo-đức
mở mang phong hóa,
Tỉnh quốc hồn
lánh họa an nhàn,
Bước theo
thẳng một con đàng,
Trở về cựu vị hưởng nhàn thiên thu.
Mặc kẻ thế
võng dù xe ngựa,
Lòng nhiễm
trần lo rửa cho ra,
Hiệp thành
chơn lý tinh ba,
Sửa mình nên Ðạo ôn hòa thiện lương.
Thi:
Lương phương diệu dược đã tầm ra,
Ắt dứt si
mê hết bịnh tà,
Hồn vía
tỉnh say thì tự hối,
Khử trừ dứt
tuyệt chứng trầm kha.
Thành tâm
tiếp giá PHỤ-HOÀNG ngự lâm. Ngã chào chư hiền, ngã kiếu. Thăng.
* * * * *
Thi:
NGỌC minh chiếu diệu bửu linh thiên,
HOÀNG phụ
hoát khai pháp-chánh-truyền,
THƯỢNG đức
tịnh tâm tu đắc quả,
ÐẾ căn phản
bổn hiệp thiên nhiên.
Thầy các con.
Thầy mừng các con.
Thi:
Thiên nhiên lý Ðạo chẳng phai mòn,
Mòn ấy là
do tại các con,
Con biết
siêng năng đào luyện mãi,
Thì là sáng
suốt tợ châu son.
Son sắt một
niềm chớ đổi thay,
Gìn ghi
Thánh huấn Ðạo phô bày,
Nương thoàn
bát nhã hồi nguyên bổn,
Níu vững
chơn truyền kẻo sẩy tay.
Sẩy tay lọt
tuốt xuống A-Tỳ,
Chịu những
khổ sầu rắc rối nguy,
Mờ mịt biết
đâu tầm trở lại,
Chung quanh
bao chặt bít đường đi.
Ði lại mấy
lần dạy bảo con,
Siêng năng
tu tịnh phận lo tròn,
Sớm khuya
chăm chỉ cơ siêu thoát,
Thiện phước
vò tròn một quả ngon.
Quả ngon
dành để đợi chờ con,
Hưởng thử
đào tiên vĩnh kiếp tồn,
Tự toại
tiêu diêu nơi đảo Thánh,
Vui say mùi
Ðạo chốn Bồng-non.
Non Tiên
dưỡng tánh mấy muôn đời,
Khổ hạnh
trải qua khắp mọi nơi,
Tấn-hóa noi
theo chơn lý Ðạo,
Dày công
mới thể đoạt cơ Trời.
Cơ Trời mầu
nhiệm dễ gì tầm!
Suy nghĩ
cho ra tránh lỗi lầm,
Thoát kiếp
luân-hồi nhờ trí huệ,
Siêu phàm
nhập Thánh tại nơi tâm.
Tâm giác
làm nên Phật, Thánh, Tiên,
Người tu
noi đấy đoạt nhơn duyên,
Tâm mê dẫn
dắt làm ma quỉ,
Lộn kiếp
lông sừng chịu đảo điên.
Ðiên đảo
lòng con nỗi Ðạo đời,
Ðời còn rộn
rực luyến mê chơi,
Ðạo thì
cũng muốn tu thành Phật,
Theo Ðạo
thì con lại tiếc đời.
Tiếc đời
nên cứ đắm vùi thân,
Thầy đến
vớt lên đã mấy lần,
Tánh tục
vẫn ưa màu sắc đẹp,
Lòng phàm
khó dứt khổ mê tân.
Tân trào
cuồn cuộn sóng văn minh,
Bủa khắp
nền nhân đã gập ghình,
Gió phất
bùa mê đời muội trí,
Dấy hừng
vật chất thấy mà kinh.
Kinh sợ sau
này có chuyện nguy,
Sanh linh
chung chịu cuộc sầu bi,
Thầy thương
không lẽ khoanh tay ngó,
Lập Ðạo
toan phương giải thoát thì.
Thì giờ
Thầy đã tái lâm rồi,
Che chở cho
đời tránh khúc nôi,
Những tưởng
tin và hành Ðạo-đức,
Thầy dùm
giúp sức thoát luân-hồi.
Hồi nào
mê-muội lỗi lầm sanh,
Biết Ðạo
toan phương tập tánh lành,
Vùng vẫy
thoát ra màn hắc ám,
Chống đương
lũ quỉ bước cho nhanh.
Nhanh lẹ
kịp đò kẻo trể con!
Trể chơn
trông đợi trí tâm mòn,
Bao giờ gặp
đặng thuyền qua nữa,
Tiếng trống
giục hồn tỉnh thức con.
Con thông
đạo lý của CAO-ÐÀI,
Luyện vóc
kim thân trí huệ khai,
Tấn-hóa
tự-nhiên đừng vọng tưởng,
Tưởng đều
hình bóng đó là sai.
Thầy giải sơ
về "Nền Tảng Cao-Ðài Ðại-Ðạo".
Cái qui củ
chuẩn thằng của Ðạo-đức phải noi theo mà hành cho trúng phép, chớ nên canh cãi
phải sai lạc chơn truyền.
Về phương
pháp tu tánh luyện mạng, thì vô-vi, vô xú, các con tu luyện phải lo dụng công
vận chuyển pháp-luân y theo tâm-truyền khẩu thọ. Nên hay không, là về phần trừu tượng vô-vi,
các con lấy trí phàm mắt tục mà lường đo dòm ngó sao thấu đáo? Thành hay không, là tại nơi các con trọn đủ
đức-tin, siêng năng tập luyện, về phần vô hình thì trên có Thầy bố hóa cho, các
con nào biết chi mà mong mỏi.
Ðạo mầu một
ngày một mở mang rộng lớn, người tu cũng thế.
Luyện đơn nấu thuốc không phải một ngày một buổi chi mà thành, phải tận
tâm trì chí cứ lo tu gom thần nhập định, bảo tinh, dưỡng khí, tồn thần, lâu
ngày tụ kết lại thành nhị xác thân nhưng phải luyện cho đủ đầy ngày tháng, chớ
đừng nóng nảy. Thí như cái cây, gieo hột
xuống, nứt mộng lên hai lá, lần lần đâm tược nhảy chồi, đơm hoa trổ trái , là
do nơi quyền luật thiêng-liêng. Nó hấp
thụ khí âm dương mà lần lần to lớn. Chớ
có ai làm cho nó lớn đặng? Và muốn mau
trổ trái đơm bông bao giờ? Xưa người nước Tống cấy mạ thấy lâu lên, nóng ra
nhớm gốc cho nó cao thêm, không ngờ phải chết.
Ấy là cái triệu chứng để cho các con noi đấy làm bằng, cứ lo tu tịnh
đừng nhiều chuyện lắm lời, tầm kinh điển, đơn thơ, làm cho trí óc mờ hồ lộn
xộn. Thánh hiền xưa lấy (mượn) nhiều tên
đặt để ra món này vật kia, muôn đường nghìn ngõ, nào là long hổ giáng thăng,
Càn-Khôn giao hiệp, biết bao nhiêu là tên, người sau lầm tưởng mà làm sái quấy
luôn.
Ðạo Thầy
không chi lạ: ÂM với DƯƠNG, THẦN với KHÍ;
không ngoài ra lẽ đó. Các con
muốn rõ Ðạo thì dùng Âm Dương là căn cơ vậy.
Trường Thiên:
Dựng nền tảng ÐẠO CAO-ÐÀI,
Phổ thông
chánh pháp chia hai chơn truyền.
Hữu hình hiệp với thiêng-liêng,
Thì là rõ thấu
căn nguyên Ðạo mầu.
Ðịnh hồn thấy hiện minh châu,
Chiếu soi
khắp cả Hoàn Cầu quang huy.
Tâm-truyền Nội-Giáo Vô-Vi,
Là cơ xuất
thế hồi qui Ðộng-Ðào.
Luyện hồn sáng suốt thanh cao,
Linh-quang
sẽ đặng nhập vào bổn nguyên.
Chừng nào quả mãn công viên,
Bửu phang
chực rước thiêng-liêng trở về.
Ðạo làm người hết mẫn mê,
Ðạo hưng
thâm thúy ắt kề Phật, Tiên.
Chỉ phương nhập định tham thiền,
Tri cơ căn
Ðạo bí-truyền luyện tu.
Vẹt lằn khói tỏa sương mù,
Chín tầng
Trời Ðất thanh-u thông-đồng.
Thầy truyền có một chữ "Không",
Chữ "Không"
làm đặng lục thông chứng thành.
Người tu tập sửa tánh lành,
Cho ra vẻ
Ðạo cho rành lý chơn.
Ðáp đền cho vẹn nghĩa ơn,
Nhẫn hòa,
khiêm nhượng, lòng nhơn trải đời.
Ðừng làm chuyện quấy trò chơi,
Noi theo
Thánh-Triết truyền lời lại kia.
Siêng cần dậy sớm thức khuya,
Ðạo-tâm một
khắc đừng lìa nó ra.
Người mà để Ðạo-đức xa,
Nội trong
giây lát quỉ ma xen vào.
Tưởng tin Tiên, Phật trên đầu,
Giúp mình
tu luyện dài lâu vững bền.
Tuyệt nhiên thanh tịnh là nền,
Dụng công
khổ hạnh mới nên Thánh Hiền.
Dễ gì làm đặng Phật, Tiên!
Ðặng là nhờ
pháp bí-truyền mà thôi.
Ngoài ra thì khó mong rồi!
Tu không
luyện mạng luân-hồi hưởng an.
Dẫu nhiều công đức thế gian,
Sau này
hưởng phước giàu sang với đời.
Dễ chi nhập đặng cửa Trời,
Dễ chi thoát
khỏi luân-hồi tử sanh!
Tại sao? Tại chẳng chí thành,
Kim-thân
chẳng có, cao thanh khó về.
Xác phàm chất trược nặng nề,
Linh-hồn
chôn chặt không bề nhảy ra.
Những giây cột trói lắm đa,
Không tường
manh mối khó mà mở xong.
Dính theo thể phách ngoài trong,
Nặng nề
trầm xuống mỏi mong gì thành.
Linh-hồn tuy vẫn trường sanh,
Thần thông
quảng đại vận hành thiêng-liêng.
Luận qua Ngoại-Giáo Công-Truyền,
Phổ thông
chơn lý Ðạo huyền độ nhơn.
Dạy người chí thánh chí chơn,
Vẹn tròn
trung hiếu nghĩa nhơn hiền lành.
Chánh tâm tu kỷ tập tành,
Tề-gia,
trị-quốc, đời lành an-bang.
Nên người quân-tử hoàn toàn,
Thanh liêm
hạnh đức mở mang giúp đời.
Trên không phạm phép Phật, Trời,
Với tâm
khỏi lỗi, với đời gọi tu.
Kết thành đoàn thể dài lâu,
Liền vây
liền cánh giúp nhau trọn niềm.
Kìa là sông cá rừng chim,
Có đoàn có
thể, nổi chìm có nhau.
Nương theo lớn trước nhỏ sau,
Chim bay em
thấp anh cao một chiều.
Biết điều trìu-mến thương yêu,
Giữ gìn
quyền lợi làm điều ích chung.
Mày râu báo quốc tận trung,
Vẹn câu hiếu
đạo lao lung một lòng.
Nghĩa nhân giữ kỹ trọn xong,
Vì nhau
chung chịu mới mong ưu thời.
Ðạo còn nương dựa với đời,
Dùng hình
thức để cho người tầm tu.
Tâm-Truyền thứ lớp công phu,
Công-Truyền
trật tự chư nhu hoàn toàn.
Ðạo mà thể một con đàng,
Thì chưa
phải Ðạo minh quang Phật, Trời.
Ðạo vô hình ảnh trong đời,
Ðạo không
tâm tiếng người người tuân theo.
Cội nguồn biến hóa ẩn bày,
Có tên tuổi
đó là ngày hóa sanh.
Người tu đến bực chí thành,
Làm cho
Thiên-lý lưu hành bốn phương.
Nhơn-dục tịnh tận thuần dương,
Mâu-ni then
máy mở đường siêu sanh.
Thi:
Sanh ra rồi
chết, chết đi đâu?
Xác thịt rã
tan chẵng mấy lâu,
Linh tánh
tinh anh trên cõi thượng,
Sao không
mượn Ðạo luyện tâm mầu.
Mầu vi đào
tạo vóc kim thân,
Luyện đặng
kết thành nhị xác thân,
Bát-Bửu
Kim-Cang nền Thánh-Ðức,
Phiêu lưu
định trí xuất Chơn-Thần.
Chơn-Thần
xuất khỏi xác phàm phu,
Nương gió
bay lên cảnh tuyệt mù,
Nhẹ gót
phiêu lưu trong Võ-Trụ,
Mặc tình an
hưởng mặc châu du.
Du lịch
khắp cùng cõi thế gian,
Xem qua tình
trạng động lòng than,
Nhơn sanh
mắc phải trong vòng khổ,
Thấy vậy mà
Thầy đổ lụy chan.
Chan chứa
lòng lo cứu thế thời,
Tang thương
biến cải các con ơi!
Họa chung
thế-giới đồng tiêu diệt,
Lánh khỏi
nhờ chưng biết ÐẠO-TRỜI.
Trời, Phật
từ bi nhỏ phước lành,
Chở che tai
họa độ nhơn sanh,
Nhủ khuyên
mỏi miệng đời toan dữ,
Giận bấy
đoàn con chẳng thiện hành.
Thầy
ban ơn các con. Thầy thăng.
1 tháng 9 - Bính-Tý (1936)
TÔN CHỈ CỦA CAO-ÐÀI
ÐẠI-ÐẠO
Thi:
NAM bang
gặp đặng Ðạo-Trời gieo,
PHƯƠNG pháp
thoát ra chốn hiểm nghèo,
GIÁO dục
người đời nên Thánh Ðức,
CHỦ trương lý chánh biết tìm theo.
Thầy mừng các
con. Thầy lấy làm vui với các con.
Thi:
ÐẠI-THỪA
Thánh-Ðạo lộ huyền cơ,
Ngọc báu trương
ra vẹt ám mờ,
Lấp biển
khổ bằng như mặt đất,
Sóng yên
dưới nước tợ trên bờ.
Trường Thiên
Ðạo-Trời ngày một hoằng khai,
Cái danh
hiệu của CAO-ÐÀI sáng trưng.
Ba nền Tôn-Giáo trùng hưng,
Nhơn sanh
thấy đặng vui mừng ngày kia.
Khó khăn con cũng chớ lìa,
Thì Thầy
điểm hóa trao chìa khóa cho.
Ðứa nào có chí siêng lo,
Tầm đường
chánh-giáo thoát lò Thiên-quân.
* * *
Ðây Thầy luận về chữ: "HỮU và VÔ".
Thi:
Hễ tầm chỗ Co?ỏ
nơi Không,
Ðứa ấy còn
đương nhốt tại lồng,
Ðạo cả
vô-vi chơn chánh lý,
Tu tâm
luyện tánh ở bề trong.
Ðạo Thầy là
vô hình, vô dạng. Nhưng cái lý vô-vi ấy
cần phải nương với hữu hình (hồn hiệp xác), chẳng nên lấy cái CÓ mà bỏ cái
KHÔNG, mà cũng chẳng nên gìn cái KHÔNG mà quên cái CÓ. Vậy thì "Co馣34;, "Không" phải đi cặp
nhau. Như hột lúa, các con dùng đặng mà
nuôi lấy thân thể ấm no là dùng cái hột gạo ở trong, chớ cái vỏ (trấu) ở ngoài
các con dùng sao đặng. Nhưng các con muốn
cho có hột gạo phải dùng luôn cái vỏ lúa đặng gieo xuống thì nó mới mọc lên,
chớ nếu các con thấy không cần cái vỏ, rồi các con lột ra trụi luỗi, còn hột
gạo trơ trơ thì các con gieo sao cho nó nứt mọng đặng, các con!
Vậy các con
tu hành cũng y như lẽ đó.
Muốn dưỡng
linh-hồn phải cần xác thịt này mà luyện Ðạo mới thành. Nhưng một điều là các con chẳng trọng sự hữu
hình. Hễ con nào còn trọng hình thức bề
ngoài thì con đó chưa rõ Ðạo.
Ðạo là cái
pháp tâm linh diệu, có một không hai.
Dầu cho nước nào, dân tộc nào cũng noi cái lý độc nhứt vô nhị đó mà
thôi.
Ðạo Thầy
đương thời kỳ phôi khai, hoằng hóa, phổ độ chúng-sanh, bất luận là người nào,
nước nào, tu theo cũng đặng. Chớ các con
dùng cái hình thức bề ngoài mà truyền bá cho sở hạp với phong tục của các con
sao đặng? Thí như nước không biết cúng
kiếng thờ phượng, các con ép buộc người ta phải thờ phượng cúng kiếng như các
con thì các con mới chịu truyền Ðạo cho thì trái hẳn với phong tục nước
người. Nó không khứng chịu, mà nó không
khứng chịu thì các con không khứng chỉ truyền, ắt cả chúng-sanh phải chịu
luân-hồi trả quả sao các con? Khờ lắm
ôi! Vã lại sự kinh kệ con dùng tiếng
Nam, rồi các con buộc các nước khác phải đọc giống in như tiếng Nam của con,
làm như con, con mới chịu chỉ truyền sao các con?
Ðạo Thầy
không phải vậy đâu.
Các con còn
nghịch nhau cân đai, áo mảo. Cái cân
đai, áo mảo đó nó có thể đem các con đến địa vị Phật, Tiên chăng? Hay là nó dẫn dắt vào nơi tội lỗi?
Các con có
tranh nhau về đạo-đức chớ đừng tranh nhau về hình thức bề ngoài thì mối Ðạo mới
hoằng khai khắp chốn.
Thầy có một
điều khuyên các con cần phải giữ lấy hạnh đức người tu. Các con đáng sợ là sợ muôn mắt trông vào,
nhiều tay chỉ trỏ. Người ta thấy cái
giáo-lý rất nghiêm trang thì ai lại không khẩn cầu truyền Ðạo. Nhưng Ðạo Thầy "im ẩn sâu xa, mầu nhiệm lắm",
các con khó mà theo kịp. Các con cứ vững
tâm, tu luyện hoài, đừng thái quá, đừng bất cập. Xưa kia
có người chê mặt Trời sao đi chậm chạp, không bằng con kiến bò, chừng nào tới
chỗ. Người ấy tưởng mình đi lẹ, chóng
xắp trăm phần, nên ra đi thi với mặt Trời.
Nhưng mặt Trời đã chen lặn mà người ấy chưa tới đâu hết, lại bị trong
mình mõi mệt, khát nước, đói cơm mà đành
bỏ mình nơi rừng vắng. Cũng như người
nước Tống cấy mạ thấy lâu lên, làm tài khôn ra nhớm gốc lên hết cho cao thì lúa
kia đều chết ráo, các con khá rõ à!
Tu hành cũng
như các con gieo hột giống xuống thì chắc nó mọc lên, mà mọc lên thì các con
siêng năng bón phân, tưới nước hằng ngày, thủng thẳng nó lớn một ít ít. Lâu ngày nó đơm hoa, trổ trái. Sức lớn ấy do "Lý Thiên-Nhiên", chớ
các con làm sao nó lớn đặng.
Các con nghe:
Trường Thiên:
Tu hành giữ mực chừng thôi,
Ðừng bày vẽ
lắm rồi bôi lem đầy (cười...cười...).
Các con biết đặng đạo Thầy,
Ðạo Thầy
không chịu cho ai biết mình.
Ở ăn như thể thường tình,
Lo tu luyện
Ðạo sửa mình tinh ba.
Tu không biểu mặc đồ dà,
Cạo râu thí
phát bỏ nhà lìa con.
Ông bà cha mẹ đương còn,
Phải lo báo
đáp cho tròn hiếu trung.
Vợ chồng trọn nghĩa thỉ chung,
Giữ như sen
mọc dưới bùn không dơ.
Làm như dốt nát dại khờ,
Ðừng cho kẻ
thế ngờ rằng mình tu!
Thầy
ban ơn các con. Thầy thăng.
Mùng 2
tháng 9, Bính-Tý 1936QUÂN-TỬ VÀ TIỂU-NHƠN
Thi:
NGỌC bửu chiêu
chương tứ hải minh,
HOÀNG Thiên ái
chúng hiệp chư linh,
THƯỢNG thừa điểm
Ðạo thông công-đức,
ÐẾ vị hồi
nguyên đáo Ngọc-Kinh.
Thầy mừng các con.
Các con ôi! sông mê cuồn cuộn chảy, bể khổ đập đùng xao; các con sanh sống
trong cõi trần hoàn, dồn dập biết mấy nổi thương tâm đau khổ. Các con cũng vì
mang xác thịt của Hậu-Thiên cấu tạo, mà lửa dục bừng bừng, lòng mê mịch mịch,
nên luống chịu cho bảy tình sai khiến giục xô, đến đỗi lạc sai lầm lỗi, kể
chẳng hay cùng.
Nhưng
trước kia các nền Chơn-Giáo đã thất chánh truyền thì dẫu các con có mê-muội,
phạm nhiều tội quá, cũng còn mạnh miệng đổ thừa. Chớ đến ngày nay Thầy đã nhọc
đem mối Ðạo nhiệm mầu mà phô trương hoằng hóa giữa nhơn gian, cốt để vẹt màn
hắc ám, hầu độ rỗi các con cho thoát chốn mê đồ khổ cảnh, mà nếu các con lại
không sớm tỉnh ngộ quày đầu, để cứ mãi say sưa mài miệt trong vòng tục lụy trần
ai thì há còn chối đặng rằng Thầy không dạy nữa sao? Các con nên liệu lấy! Ðến ngày phán đoán đại đồng, Thầy dẫu
yêu thương cách mấy, cũng không bỏ được phép công.
Trong đời nhơn loại thường chia ra hai hạng: Quân-tử với Tiểu-nhơn.
Vậy các con nên theo gương Quân-tử mà chẳng nên học thói tiểu nhơn.
Quân-tử là gì? Tiểu-nhơn là gì?
Quân-tử ấy là một hạng người đức tài xuất chúng, phẩm hạnh hơn người, nhân cách
hoàn toàn, tánh tình cao thượng. Người Quân tử thì bao giờ cũng ung dung thư
thái, ưa làm sự phải điều hay, thuận Thiên-lý lưu hành, đem chơn đạo mà khuyên
đời tùng lương cải ác. Tấm lòng bao giờ cũng quảng đại, vô-vi, thanh tịnh,
không phóng túng, bôn chôn mà để cho lòng dục khiến sai, uốn bẻ, đến phải bước
lầm vào nẻo quấy. Mọi việc đều xét suy đáo để, tính trước lo xa, thương người
ích chúng, ham nghĩa, ưa nhân, chuộng trung, mến chánh. Bao giờ cũng vẫn tùy
thời quyền biến mà giữ cho được hai chữ "trung dung", chớ không thái quá, không bất cập. Dầu gặp cảnh
ngộ nào thì tâm chí cũng cứ an vui, không để thất tình loạn động, vì người
Quân-tử là: "Thực vô cầu bảo, cư
vô cầu an" kia mà!
Cái đức người Quân-tử thường như nước vậy. Nghĩa là châu lưu khắp chảy tứ phương, gặp tròn, gặp méo, gặp dài, gặp
vuông, nước cũng chìu theo được hết. Lại nước cứ từ cao chảy xuôi xuống thấp
nên người quân tử luống chịu hạ mình cho vừa lòng tất cả nhơn sanh. Nhưng nước
tuy cứ tìm chỗ thấp, cứ chịu theo khuôn, cứ mềm với chúng, mà đến chừng ai muốn
cho nó tiêu mòn sứt mẻ thì chẳng làm sao hề hấn đến được lấy chút mảy may gì nó
bao giờ. Người Quân-tử theo đời
mà chẳng nhiễm đời, chìu người mà chẳng bợ người, tùy tục mà không đắm tục, cứ
giữ tánh tình thanh bạch, tâm chí cao siêu, dầu ai dầm cũng chẳng phai, ai dũa
cũng chẳng mòn, nên bả lợi danh, mồi chung đỉnh có bao giờ trêu nhử được đâu.
Còn đứa tiểu-nhơn lại bỏ nghĩa theo lợi, lấy vạy cầu danh, tâm tà tánh độc, nết
kiêu chí hèn. Nói tắt một lời là mỗi mỗi thảy đều trái hẳn với người Quân-tử
như trắng với đen, như Trời với vực.
Tuy nhiên, người Quân-tử càng trốn cái
danh mà danh càng rạng tỏ, càng chìu với thế mà thế vẫn tôn sùng. Còn đứa
tiểu-nhơn lại càng chuộng cái danh mà danh càng nhơ nhớp, càng kiêu với thế mà
thế vẫn thị khinh.
Ấy thế mà cớ bởi sao hạnh quân tử lại ít người làm, còn thói tiểu nhơn thì
nhiều kẻ học. Ôi! Thiệt rất đáng buồn cho nhơn loại biết bao!
Trường Thiên
Lấy gì đánh thức nhơn sanh,
Ðời toan tìm dữ, bỏ lành thì thôi.
Thấy càng thêm chán lắm ôi!
Nhơn tình như thế đứng ngồi không an.
Thói đời nhiều sự dị đoan,
Làm mê hoặc chúng mơ màng viễn vông.
Họa chung khôn thể lường đong,
Thấy vầy Thầy đổ lụy ròng vì con.
Ðể cho tâm chí tiêu mòn,
Tinh thần tiền tụy sắt son mấy người.
Làm chi để tiếng trò cười,
Thấy đời hổ thẹn thói đời hủ thay.
Văn minh tấn bước đua tài,
Mở mang trí óc hoát khai tinh thần.
Làm sao cho rạng mười ân,
Làm cho ích nước lợi dân thì làm!
Ðỉnh chung lợi lộc đừng ham,
Trau giồi trí hóa tánh phàm dứt đi.
Xưa nay hễ vị thì vì,
Tùy theo việc phải đừng tùy bất công.
Chung nhau Nam, Bắc, Tây, Ðông,
Kết giây đoàn thể đại đồng trị an.
Làm cho Ðạo-đức mở mang,
Làm cho cơ thể vững vàng bền lâu.
Siêng cần dầu phải dãi dầu,
Phấn tâm lập chí mới hầu nên thân.
Người mà trì trệ tinh thần,
Biếng làm Ðạo-đức, không cần nghĩa nhơn.
Trong đời có đặng điều hơn,
Là nhờ lập chí gội ơn phước lành.
Nhược không lập chí tu hành,
Già đời mãn kiếp không thành món chi.
Nhơn gian bất hoặc là gì,
Biết thân lập chí ắt thì thành công.
Người tu lập chí sửa lòng,
Nhược bằng biếng nhác thì không ích gì.
Muốn trừ khử một món chi,
Phải bền lập chí ắt thì việc xong.
Những lời Thầy đã ước mong,
Mong con lập chí thức-thông chơn-truyền.
Noi gương của bực Thánh Hiền,
Sửa mình đến cảnh Thần Tiên hưởng nhàn.
Chán đời tìm chốn tịnh an,
Học theo quân tử, lánh đàng tiểu nhơn.
Khó khăn chí vẫn đâu sờn,
Hữu duyên nghe lọt tiếng đờn vô-vi.
Làm người cần phải nghĩ suy,
Hai đường qua lại chọn đi đường nào.
Khổ tâm bước thấp bước cao,
Tầm sư học đạo công lao chớ phiền.
Xưa kia NGHIÊU-ÐẾ cầu Hiền,
Bao phen khó nhọc mà truyền kế ngôi.
TẦM-DO đã suốt mồ hôi,
HỨA-DO lòng vẫn chán rồi lợi danh.
Thị đời là vũng hôi tanh,
Nên chi lánh trược tầm thanh ẩn nhàn.
Ngôi cao vương đế không màng,
Quét tiêu bợn tục giàu sang há cầu.
Nhưng còn SÀO-PHỦ cao sâu,
Nghe qua sợ nhiểm lòng trâu nữa kề.
Ðời đà bắt chán bắt chê,
Ðáng khi đáng thị mết mê nỗi gì?
Non cao khiển hứng phú thi,
Xa nghe tiếng tục rầm rì bên tai.
Nhẫn kiên HÀN-TÍN đại tài,
Lòn trôn giữa chợ chẳng nài xấu xa.
NHAN-HỒI tháng lại ngày qua,
Ẩn thân nơi chốn rừng già luyện tu.
Nghêu ngao trong cảnh Trời Thu,
Ðai cơm bầu nước vân du ta bà.
Tâm hồn thích hợp trung hòa,
Mấy năm lậu hạng mới là trượng phu.
An nhàn tâm trí thanh u,
Chán đời giã dối hèn ngu bạo tàn!
TỬ-NHA ngồi chốn thạch bàn,
Thả câu sông Vị ẩn tàn Thiên-Cơ.
Lúc nguy phải chịu dại khờ,
Bao lần sôi nổi đợi chờ hội thi.
Làm ăn chẳng đặng món gì,
Thành ra hư hõng mãi đi bao lần.
Có thân thiệt khổ cho thân,
Sớm khuya buôn tảo bán tần đủ đâu.
Ðói no vui với Ðạo mầu,
Suốt đời thong thả mà cầu trường sanh.
Bảy năm Dủ-Lý nhọc nhằn,
Hà-Ðồ Bát-Quái dịch thành Lạc-Thơ.
Cho đời rõ máy huyền cơ,
Tiên-thiên chia sắp cõi bờ hậu-thiên.
Ðời sau dễ kiếm chơn truyền,
VĂN-VƯƠNG thọ ngục chẳng phiền trách ai.
Trọn niềm trung hiếu chẳng phai,
Mặc người bội nghĩa, mặc ai bạc tình.
Lỗi mình, mình trước sửa mình,
Lỗi
người phú có Thần minh chứng lòng.
Chi bằng nhẫn nhịn thì xong,
Mặc ai thêu dệt cua còng thì thêu.
Kìa như TỬ-LỘ thân nghèo,
Trọn niềm hiếu Ðạo, vẹn điều thỉ chung.
Ðáp đền hiếu thảo đến cùng,
Dẫu cho nát thịt cũng trung trọn tình.
LỘ là một bực thông minh,
Ai mà chỉ lỗi sửa mình mừng vui.
TRƯƠNG-LƯƠNG nếm Ðạo biết mùi,
Níu nương cửa Phật an vui tinh thần.
Công khanh tể tướng không cần,
Biết lo lánh trước cái thân sau này!
Học cho suốt lý đủ đầy,
Thí như HẠNG-THÁC làm thầy TRỌNG-NI.
Bạc riêng bạc, chì riêng chì,
Vàng thau lẫn lộn rồi nguy lắm mà.
Chánh riêng chánh, tà riêng tà,
Người lành kẻ dữ khác xa hai đường.
Hữu xạ thì tự-nhiên hương,
Cần
chi mà phải đem trương với đời!
Bánh xe chuyển kiếp luân-hồi,
Cứ quay mãi mãi cứ nhồi luôn luôn.
Thói đời hãm chặt vào khuôn,
Ðương còn cá chậu chim chuồng khổ lao.
Kẻ chịu thấp, người ưa cao,
Trèo lên trợt xuống lộn nhào leo lên.
Miễn sao tâm chí vững bền,
Ðài cao trăm trượng biết lên kiếm tìm.
Sắt cục mài trở nên kim,
Dày công mới đặng đừng hiềm khó khăn.
Lỗi rồi mà biết ăn năn,
Hóa
Mê thành Giác mới rằng tài ba.
Hai đường là Phật với Ma,
Ðọa
siêu chỉ tại chánh tà, do tâm!
Thi:
Tà tâm xúi dục sự ngu hèn,
Ưa thích lợi quyền chuộng tiếng khen,
Ích kỷ tổn nhơn tham dục mãi,
Rửa lòng trong sạch tợ hoa sen.
* * *
Sen cúc mùa Thu ngát phấn hương,
Giữ gìn nên bứng để trong trường,
Ðạo cao nhiều lúc ma cao phá,
Phòng những dục tâm dắt lộn đường.
Thầy
ban ơn các con. Thầy thăng.
Mồng 4 tháng 9, Bính-Tý (1936)
KIÊN NHẪN - HẠNH NGƯỜI TU
Thi:
NGỌC tỵ ngũ hành lộ Chiếu-Minh,
HOÀNG Thiên ban bố đức thông-minh,
THƯỢNG tầng khí chất thanh-thanh
khứu,
ÐẾ lịnh ra oai chuyển Ðạo-Huỳnh.
Thầy mừng các
con. Các con đại tịnh, nghe Thầy giải sơ chữ: "KIÊN-NHẪN".
Thi:
Kiên Nhẫn gầy nên Thánh-Ðức tâm,
Nhẫn kiên Ðạo-đức nghĩ suy ngầm,
Lủy thành chống vững đường tên đạn,
Nhẫn được lâu ngày hỏa dục lâm.
Thi Bài:
Huấn luyện người trở nên Ðạo-đức,
Thì thân Thầy khổ cực biết bao,
Chỉ phương lập chí thanh cao,
Cho
thông suốt lý tạo đào tâm chơn.
Lập một nước dễ hơn truyền giáo,
Truyền dạy người đắc Ðạo khó thay!
Biết bao kềm sửa đêm ngày,
Làm
nên Tiên, Phật rất dày công phu.
Ðây là hạnh người tu luyện đạo,
Ðoạn dứt lòng gian xảo kiêu căng,
Miệng không hay nói chuyện xằng,
Ngồi
lê đôi mách cằn nhằn người ta.
Phải nắm giữ Hiệp-Hòa Kiên-Nhẫn,
Tịnh tâm lo bổn phận làm người,
Lỗi lầm thiên hạ chớ buơi,
Xấu
xa mê-muội đừng cười chê khen.
Lần hồi tập cho quen tánh cách,
Giữ tấc lòng trong sạch hoàn toàn,
Mặc tình ai thói dọc ngang,
Những
điều quấy quá chớ mang vào mình.
Lo đóng cửa luyện hình vóc Phật,
Ðối mọi người chơn thật mến yêu,
Quanh co thuyền phải theo chìu,
Người
trong một Ðạo dắt dìu giúp nhau.
Ðừng cậy thế quyền cao chức trọng,
Ðừng ỷ giàu kiệu lộng nghinh ngang,
Con
dầu một bực Thánh-Hoàng,
Biết
tu coi tợ như hàng con dân.
Người hiền đức không cần danh vọng,
Làm thì ưa công cọng hiệp hòa,
Kính người quên phức đến ta,
Tự-nhiên
thanh tịnh giọng tà bất sanh.
Theo Thiên-lý lưu hành hạp Ðạo,
Gom ngũ quan rèn tạo kim thân,
Tuy là lẫn lộn hồng trần,
Nhưng
lòng Ðạo-đức không cần lợi danh.
Cây đại thọ đơm cành nãy tược,
Tốt tươi nhờ tưới nước bón phân,
Tu cho mau phát tinh thần,
Thì
lo luyện tập cho cần ngày đêm.
Biết Ðạo chớ nói thêm nói bớt,
Tội lỗi người đở vớt chở che,
Nhiều cây mới kết nên bè,
Anh
em chung trí đồng hè nhau tu.
Phá cho đặng khám tù thế tục,
Diệt cho tiêu lòng dục tánh phàm,
Những điều ưa chuộng mến ham,
Con
nên bỏ phức túi tham cho rồi.
Thoát thân khỏi luân-hồi nghiệp báo,
Chỉ tận tâm với Ðạo cứu cho,
Trần ai nóng tựa lửa lò,
Hơi
bay hực hực đen mò khói un.
Hít vào thì ngây cuồng mê-muội,
Mất trí khôn lầm lũi đường tà,
Khói un độc địa thay là,
Thầy
đem chén thuốc chữa mà các con.
Nên hạ mình chìu lòn chúng bạn,
Ðức hạnh tròn chói sáng mọi nơi,
Khuyên con con biết nghe lời,
Dạy
con con biết tùy thời chấp trung.
Lo lập chí vẫy vùng cơ hội,
Cứu vớt người lặn lội bến mê,
Tình đời cần phải chán chê,
Ðừng
mang những gánh nặng nề ai trao.
Lấp biển khổ, làm sao lấp đặng?
Xô thành sầu, khó hẳn mà xô!
Người người lâm bịnh ngây ngô,
Chúng
ta hiệp lại lấp xô khó gì!
Biết Ðạo-đức chịu lỳ với Ðạo,
Ðể quỉ ma nó khảo mới cao,
Phơi gan trãi mật anh hào,
Ðại
hùng, đại lực mới vào cảnh Tiên.
Diệt bản ngã bỏ quyền dụng lý,
Khử tư tâm hiệp ý Ðại-Ðồng,
Làm cho thế giới lưu thông,
Dân
quyền xướng dậy đời hồng âu ca.
Tánh đức của người ta cao thượng,
Lo gieo truyền tư tưởng thanh cao,
Giúp cho nhơn-loại dồi dào,
Kết
dây đoàn-thể đồng-bào quốc-dân.
Không chịu lãnh những phần khen ngợi,
Không chịu làm tư lợi tổn nhơn,
Không oán để tiếng khinh lờn,
Ham
làm Ðạo-đức nghĩa nhơn gọi là.
Người hiền để người ta biết đó,
Thì cũng chưa thiệt rõ người hiền,
Người hiền an tịnh nhẫn kiên,
Lo
làm âm đức mới thiền tâm linh.
Còn nhớ đến rằng mình hay giỏi,
Thì ai đâu còn gọi người hiền!
Người hiền trầm tỉnh ổn yên,
Thủy
triều vận tải căn nguyên đức tài.
Người hiền chẳng khoe khoang tự đắc,
Lo cho người tai mắt ích chung,
Gìn tâm chẳng để buông lung,
Cúi
lòn nhẫn nhịn giây dùng dứt coi!
Thi:
Coi thử xưa nay bậc Thánh Hiền,
An vui nhờ bởi Nhẫn Hòa Kiên,
Gương lành quí hóa TRƯƠNG-CÔNG-NGHỆ,
Súc vật thương nhau quá ngọc tiền.
Thầy
ban ơn các con. Thầy thăng.
Mồng 3 tháng 8 - Bính-Tý (1936)
HÒA HIỆP
Thầy các con.
Thầy mừng các con. Các con đại tịnh, nghe Thầy dạy:
Thi:
NGỌC ẩn non cao tự bấy giờ,
HOÀNG thành Ðạo-đức chuyển
huyền-cơ,
THƯỢNG căn tầm thấu nguồn cao cả,
ÐẾ nắm tâm kinh mãi đợi chờ.
Thầy lấy làm
may mắn vì nay có cơ hội mà hoằng hóa chơn truyền để cứu độ nguyên nhơn phục
hồi cựu vị. Các con rất là hạnh phúc lớn
lao mới đắc ngộ tâm kinh vô tự. Thầy chỉ
truyền cho các con tu tánh luyện mạng.
Thi:
Linh-hồn ngũ trược chận dằn lên,
Lục dục phá hư chẳng vững bền,
Cửa Ðạo đã gài tâm tánh muội,
Mê đời vật chất bởi cho nên!
Ðây Thầy giải
về chương "HÒA-HIỆP".
Thi:
Hòa-Hiệp trong đời quí báu thay,
Hòa tâm thân ái mới lâu dài,
Hiệp quần đoàn thể như thành lũy,
Hòa hiệp chống đương cuộc hậu lai.
Trường Thiên:
Âm
dương hòa-hiệp hóa sanh,
Dựng nền Ðạo-đức lập thành
Càn-Khôn.
Bế
tử lộ, khai sanh môn,
Ðiều hòa mới thể bảo tồn vạn linh.
Hòa
là một món báu linh,
Là chìa khóa mở Ngọc-Kinh bước vào.
Trung
Hòa không thấp không cao,
Không chinh, không lịch, không sao
tiêu mòn.
Còn
hòa Ðạo-đức mới còn,
Còn hòa mới có các con bây giờ.
Hòa
là phép nhiệm huyền cơ,
Hiệp hòa cốt yếu ban sơ loài người.
Phong
hòa võ thuận tốt tươi,
Thuận hòa thời tiết hiện đời Phật,
Tiên.
Hiệp
hòa hình thể thiêng-liêng,
Xác hồn hiệp nhứt Ðạo huyền phát
minh.
Hiệp
đoàn thể mới hòa bình,
Hòa bình thế giới Ðạo-Huỳnh lưu
thông.
Hòa
cho rõ mặt đại đồng,
Hiệp-hòa huynh đệ mặn nồng nghĩa
nhơn.
Hòa
là chí chánh chí chơn,
Hiệp lòng bác ái độ nhơn thoát nàn.
Ðạo
Trời khắp cả dân gian,
Lấy câu hòa hiệp làm thang vượt
trần.
Hiệp-hòa
tiên bảo kỳ thân,
Hiệp tâm quân tử hiệp phần thiện
lương.
Có
hòa-hiệp mới biết thương,
Thương nhau mới thể tầm phương giúp
đời.
Lược
sơ hòa-hiệp Ðạo-Trời,
Hiệp-hòa cải thế tạo thời hóa sanh.
Người
tu khử trược lưu thanh,
Dụng công hòa hiệp mới thành Phật,
Tiên.
Ngũ
hành hiệp nhứt thăng thiên,
Ðiều hòa thần-khí hống-diên giao
hòa.
Ðịnh
tâm chế luyện tinh ba,
Biết phương sớt lại sang qua thì
thành.
Thông
tường nguồn lạch cội nhành,
Là phương hòa hiệp mới rành trước sau.
Chữ
hòa quí báu biết bao,
Bao trùm Võ-Trụ thấp cao cũng hòa.
Ðất
trời do đó mà ra,
Phật, Tiên do đó mới là siêu thăng.
Những
người tiền kiếp hữu căn,
Nghe câu hòa hiệp sánh bằng ngọc
châu.
Chữ
hòa há dễ làm đâu!
Làm cho đặng ắt thoát bầu tử sanh.
Ở
trong một điệu tu hành,
Một Hòa hai Nhẫn chớ sanh lòng tà.
Người
tu không biết nhẫn hòa,
Ðể cho lửa dục đốt mà cháy tiêu.
Hòa
ai cũng mến cũng yêu,
Ðáng khen đáng tặng biết chìu lòng
nhau.
Hạ
mình xuống thấp mà cao,
Trèo cao sẽ té lộn nhào chẳng không!
Chữ
hòa phương pháp phổ thông,
Chữ hòa-hiệp đó rất công mọi người.
Nhẫn
hòa giữa đám mười mươi,
Tấm lòng an tịnh người người kỉnh
thay.
Hiệp
hòa giữ đặng là hay,
Bỏ đi là dở bất tài bất minh!
Chữ
hòa giồi luyện đẹp xinh,
Hiệp tâm chi sĩ sửa mình thanh cao.
Thi:
Cao thượng làm nên lẽ Hiệp-Hòa,
Hiệp-hòa mới có các con ra,
Tu thành Tiên, Phật do Hòa-Hiệp,
Hiệp nhứt hư không ở với Già.
Thầy
ban ơn các con. Thầy thăng.
No comments:
Post a Comment